Đường Trường Sơn qua hồi ức "người trong cuộc"

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- “Tôi luôn nói với các con rằng: Điều tự hào nhất của ba là từng được lái xe trên con đường 559 huyền thoại”-ông Đoàn Hữu Phương (tổ 5, phường Yên Đổ, TP. Pleiku) hồi nhớ.

Ông Phương là Tiểu đội trưởng thuộc Tiểu đoàn xe 848-đơn vị vận tải đầu tiên thực hiện nhiệm vụ đưa vũ khí, quân lương từ đường Trường Sơn về chiến trường Khu 5 trong “mùa hè đỏ lửa” năm 1972.

Hành trình vượt Trường Sơn

Ngày 19-5-1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức thành lập “đoàn công tác quân sự đặc biệt” mang phiên hiệu Đoàn 559. Một số đơn vị vận tải trực thuộc Bộ Giao thông-Vận tải khi ấy đã được huy động tham gia.

“Tôi sinh năm 1947 tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Tháng 1-1966, tôi học tại Trường Lái xe Hà-Bắc, rồi về công tác tại Đoàn xe 16 (Cục Vận tải ô tô). Tháng 10-1971, Ban Thống nhất Trung ương lấy cán bộ “đi B”. Sau thời gian ngắn tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện để phục vụ trên chiến trường, tháng 2-1972, tôi được biên chế vào Tiểu đoàn xe 848 (Cục Hậu cần Quân khu 5)”-ông Phương chia sẻ.

 Ông Đoàn Hữu Phương. Ảnh: Lê Hòa
Ông Đoàn Hữu Phương. Ảnh: Lê Hòa


Theo lời kể của ông Phương, Tiểu đoàn xe 848 có 120 chiếc với 4 loại: Zil 157, Gaz 63 (Liên Xô), Hồng Hà và Vọt  Tiến (Trung Quốc). Ông là Tiểu đội trưởng Đội 1 thuộc Trung đội 1, Đại đội 1 và được giao lái chiếc xe Gaz 63, BKS BB-6147 chở bộc phá. Tổng cộng, ông cùng đồng đội đã vượt qua 8 binh trạm (12, 14, 30, 31, 33, 34, 38, 44), hành trình di chuyển từ Quảng Bình đến Quảng Nam. Suốt hành trình, máy bay Mỹ liên tục quần đảo trên đầu. Đại đội 1 ban đầu có 35 chiếc xe, vào đến Binh trạm 44 chỉ còn 22 xe. Hành trình vượt cung đường cách nhau không bao xa nhưng đoàn mất gần 2 tháng mới tới đích.

“Sau khoảng 15 ngày lên đường, chúng tôi bị địch phát hiện và tấn công tại phạm vi thuộc Binh trạm 22. Lúc ấy, khoảng 10 giờ, khi đoàn đang vượt qua một bãi trống”-ông Phương kể lại. Đoàn xe thường chạy xuyên dưới tán rừng. Những đoạn không có cây che, quân ta dựng mái che và ngụy trang bằng cây lá để máy bay địch không phát hiện, song không phải chỗ nào cũng có thể được phủ kín. “Chiếc máy bay OV-10 phát hiện đoàn xe và lập tức bắn pháo khói báo hiệu cho máy bay chiến đấu. Anh em rời xe tìm nơi trú ẩn để tránh thương vong, riêng tôi liều nhảy lên kịp lái 2 chiếc xe khác đi giấu. Nhờ “cứu” 2 chiếc xe này nên tôi được xem xét đề nghị kết nạp vào Đảng. Trong trận oanh tạc đó, 1 đồng chí thuộc tiểu đội của tôi hy sinh, 1 người bị thương, xe trúng đạn và bốc cháy dữ dội, phải mất nhiều thời gian để khôi phục”-ông Phương nhớ lại.

Trận thứ 2 ác liệt hơn, xảy ra sau trận thứ 1 tầm 20 ngày. Lúc này, đoàn di chuyển tới Binh trạm 38. Tại đây, các đoàn xe không được di chuyển ban ngày mà chuyển qua di chuyển vào ban đêm. Đi trong đêm tối, xe gắn “đèn phòng thủ” ở ngay cản trước mui để nhìn đường chạy. Đêm xuống, rừng sâu lạnh buốt, khi xe chạy, bộ phận ống xả bị nóng, những chiếc ống xả rực đỏ. Lúc này, địch dùng loại máy bay C130 được trang bị tia hồng ngoại và công nghệ cảm ứng nhiệt nên những chiếc ống xả rực đỏ là điểm để máy bay C130 dò ra. Khoảng 21 giờ, máy bay Mỹ bắt đầu bắn vào đoàn xe. Anh em đều chạy thoát nhưng có 8 chiếc xe bị đánh cháy.  

Mở đường vào khu 5

Tháng 4-1972, đoàn đến Binh trạm 44. Tại đây, Tiểu đoàn xe 848 được lệnh nhập với Trung đoàn Công binh 230 (Quân khu 5) làm nhiệm vụ tạo tuyến vận tải đưa vũ khí, hàng hóa, lương thực, thuốc men từ đường 559 về các vùng căn cứ thuộc Khu 5 theo lối từ Hiệp Đức đến Thăng Bình (tỉnh Quảng Nam).

Đường Trường Sơn Đông-đoạn qua xã Tơ Tung (huyện Kbang). Ảnh: Đức Thụy
Đường Trường Sơn Đông-đoạn qua xã Tơ Tung (huyện Kbang). Ảnh: Đức Thụy
Ông Đoàn Hữu Phương: “ATP” được mệnh danh là “túi bom”, “tọa độ lửa”-là 3 điểm ác liệt nhất trên đường Trường Sơn gồm: cua Chữ A, ngầm Tà Lê và đèo Pu-li-nhich. Đã có hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ, dân công hỏa tuyến của ta đã nằm lại tại đây vì máy bay Mỹ liên tục rải bom tọa độ. Những nơi ấy, đoàn xe chúng tôi đều đi qua.

“Đoàn vừa đi vừa mở đường xuyên trong rừng. Địa hình quanh co, nền đất nhão, để đảm bảo cho xe ô tô chở hàng hóa, bộ đội Công binh phải chặt hạ cây rừng làm đường “rong-đanh”: kết các cây gỗ đường kính 10-15 cm lại thành bè và đặt theo phương ngang để xe chạy không bị sụt lún. “Xe gần như không còn phanh chân vì hệ thống dây tiêu dẫn dầu dưới gầm đã đứt hết. Tài xế chỉ dùng phanh tay và cài số 1, 2; tốc độ di chuyển 5-10 km/giờ nhưng vẫn xóc ghê lắm. Có lần người dân địa phương xin đi nhờ xe cho đỡ mệt nhưng chỉ ngồi được mấy phút chịu không nổi, đành xin xuống xe… đi bộ”-ông Phương kể.

Mặc dù trên danh nghĩa là vùng an toàn nhưng máy bay địch vẫn bắn phá. Bộ đội Công binh vì thế vẫn phải làm “đường kín” để đảm bảo an toàn, bí mật cho con đường. “Những quãng trống, anh em hạ cây, kết thành mái che, bên trên phủ đầy phong lan rừng để ngụy trang. Mỹ thường thả “bom dây”-loại bom được gắn với sợi dây móc lơ lửng trên cây, chẳng may va phải, bom sẽ phát nổ. Nhiều cán bộ, chiến sĩ của ta vướng “bom dây” bị cắt cụt chân, tay”-ông Phương hồi nhớ.

Phục vụ lái xe trên tuyến đường này 1 năm, tổ chức điều động ông Phương về tiếp quản phương tiện thu được của địch sau chiến thắng Đak Tô-Tân Cảnh. Tây Nguyên giải phóng, ông về công tác tại Ban Giao-Vận Kon Tum. Năm 1975, 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum sáp nhập, ông công tác tại Sở Giao thông-Vận tải tỉnh Gia Lai-Kon Tum. Đến năm 1991, khi chia tách tỉnh, ông Phương ở lại công tác tại Sở Giao thông-Vận tải tỉnh Gia Lai đến khi về hưu.

Sau giải phóng, tuyến đường từ Binh trạm 44 đi Thăng Bình được nâng cấp thành một phần của quốc lộ 14E. Đây là một trong những tuyến giao thông quan trọng kết nối 2 đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 1A, góp phần tạo nên sức sống mới cho quê hương xứ Quảng anh hùng.

 

LÊ HÒA

Có thể bạn quan tâm

Tình yêu kháng chiến - hạnh phúc trọn đời

Tình yêu kháng chiến - hạnh phúc trọn đời

(GLO)- Chiến tranh dẫu khốc liệt song từ sự đồng hành của những người cùng chung lý tưởng cách mạng, tình yêu đã đơm hoa kết trái, trở thành điểm tựa để người lính vững vàng giữa bom đạn, vun đắp nên hạnh phúc bền chặt sau ngày đất nước thống nhất.

Viết lại đời mình bằng việc tử tế

Viết lại đời mình bằng việc tử tế

(GLO)- Ít ai biết, sau dáng vẻ điềm đạm, ít nói của người đàn ông đã bước qua tuổi lục tuần - Kpă Dõ, Trưởng ban Công tác Mặt trận làng Lê Ngol (xã Bờ Ngoong) - là một quá khứ nhiều day dứt. Hai mươi lăm năm trước, vì nhẹ dạ và thiếu hiểu biết, ông bị lôi kéo vào con đường lầm lỡ.

Tìm các anh giữa cỏ non Thành cổ

Tìm các anh giữa cỏ non Thành cổ

Sáng 2.4 vừa qua, tại di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị (tỉnh Quảng Trị), Ban Chỉ đạo quốc gia tổ chức lễ phát động "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

(GLO)- Khi tà đạo “Hà Mòn” tan biến, trên những buôn làng ở xã Hra, xã Đak Pơ, niềm tin làm giàu đang được gieo lại từ chính mảnh đất cũ. Nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng cùng ý chí vươn lên của người dân, những vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ. 

Xây thế trận lòng dân từ sâu rễ bền gốc nơi tà đạo Hà Mòn đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo Hà Mòn đi qua - Kỳ 2: Tỉnh ngộ sau chuỗi ngày tối tăm

(GLO)- Phía sau những lời hứa hẹn mơ hồ về một cuộc sống sung túc không cần lao động. Ở một số buôn làng, những mái nhà vốn yên ấm bị xáo trộn. Chỉ khi cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng kiên trì vận động, nhiều người mới dần nhận ra sự thật, tỉnh ngộ và quay về với cuộc sống bình thường.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

(GLO)- Có một thời, ở những ngôi làng Bahnar như Kret Krot (xã Hra), Kuk Kôn, Kuk Đak (xã Đak Pơ), nhịp sống bình yên bỗng chùng xuống. Tà đạo Hà Mòn như một “cơn gió độc” quét qua, để lại phía sau sự im ắng nặng nề, len lỏi vào từng mái nhà, khiến buôn làng trở nên khép kín, u ám.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

null