Điện Biên Phủ: Vang mãi bản hùng ca

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Đã 65 năm trôi qua kể từ ngày Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, góp phần kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược. Trên mảnh đất bom cày đạn xới năm xưa, các thế hệ người dân Điện Biên đã và đang chung tay viết tiếp bản hùng ca dựng xây cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc.
Ký ức hào hùng của những người lính Điện Biên
Đến giờ,  ký ức về “Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt/Máu trộn bùn non/Gan không núng/Chí không mòn” (thơ Tố Hữu) vẫn còn in đậm trong tâm trí người cựu binh Đinh Hổ (hiện sinh sống tại tổ 5, phường Ia Kring, TP. Pleiku). Ông Hổ nay đã 95 tuổi, sức khỏe kém nhưng khi trò chuyện cùng chúng tôi, ông vẫn lấy cuốn tiểu sử của mình ra đọc đi đọc lại từng trang như để nhớ về ngày tháng lịch sử hào hùng của trận đánh mà cả thế giới phải nghiêng mình thán phục. Nơi đó, thời điểm đó, chính ông là người dùng bộ đàm thông tin cho đơn vị việc tướng De Castries cùng Bộ Tham mưu Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã bị bắt sống, chứng kiến quân ta diễu hành reo hò chiến thắng, âm thanh vang dội một vùng.
Đôi bàn tay run run, đôi mắt sáng lên niềm tự hào, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa kể, ông quê huyện Ý Yên (tỉnh Nam Định), tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ vào những ngày đầu tháng 3-1954, trước khi các trận đánh mở màn. Với cương vị là Tiểu đội phó Tiểu đội Pháo binh (Đại đoàn 351), ông có nhiệm vụ đảm bảo thông tin liên lạc cho chiến dịch, truyền đạt mệnh lệnh, ý kiến chỉ đạo chiến đấu từ Bộ Chỉ huy quân ta đến trận địa pháo binh được thông suốt, đảm bảo mạch máu thông tin liên lạc khu vực gần chảo lửa Mường Thanh, nơi máy bay địch liên tục ném bom, bắn phá ác liệt nhất. “Nhiều nơi bị địch ném bom đứt đường dây, lợi dụng thời điểm địch ngưng ném bom, tôi và đồng đội nhảy ngay xuống những hố bom sâu còn vương mùi thuốc nổ để nối lại. Có lúc phải gạt nước mắt bò qua nơi đồng đội vừa hy sinh để đảm bảo thông tin liên lạc được thông suốt”-ông Hổ hồi tưởng.  
Cựu chiến binh về thăm căn cứ Mường Phăng. Ảnh: Lê Hòa
Cựu chiến binh về thăm căn cứ Mường Phăng. Ảnh: Lê Hòa
Tự hào là chiến sĩ Điện Biên tham gia chiến dịch ngay từ những ngày đầu tháng 3 cho đến ngày kết thúc chiến dịch bằng chiến thắng vang dội ngày 7-5-1954, cựu chiến binh Nguyễn Chinh (90 tuổi, trú tại phường Ia Kring, TP. Pleiku) nhớ mãi về một thời kỳ hoa lửa đầy tự hào. Người chiến sĩ làm nhiệm vụ lái xe pháo cao xạ thuộc Trung đoàn Pháo cao xạ 367 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ nhớ lại, khi Bộ Chỉ huy mặt trận thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, đơn vị ông chấp hành mệnh lệnh kéo pháo ra. “Kéo pháo vào chiến dịch đã khó, kéo pháo ra lại càng khó khăn hơn. Đồi núi chập chùng, phải ngụy trang kỹ đề phòng địch phát hiện, ngay cả tiếng “hò dô ta” cũng được thực hiện đồng bộ với âm thanh vừa phải để tạo sức mạnh tổng hợp nhưng vẫn bảo đảm an toàn bí mật, giữ thế bất ngờ của chiến dịch”-ông Chinh kể.
Là chiến sĩ lái xe kéo pháo, ông Chinh không khỏi rùng mình khi nhớ lại từng chặng đường vượt qua phải đánh đổi bằng rất nhiều xương máu, sức lực của các chiến sĩ để đưa pháo ra khỏi trận địa đến vị trí tập kết đúng thời gian quy định. “Hình ảnh tôi nhớ nhất, đó là Anh hùng Tô Vĩnh Diện đã hy sinh thân mình chèn bánh xe để khẩu pháo không lăn xuống vực. Dù gian nan vất vả, nhưng tinh thần ai cũng lên cao, niềm tin vào chiến thắng không có gì cản được bước chân những người chiến sĩ. Lớp trước ngã xuống, lớp sau lại tiến lên, không quản ngại hy sinh. Cứ thế, 56 ngày đêm trôi qua trong khói lửa bom đạn, chúng ta đã làm nên chiến thắng diệu kỳ trước quân đội thực dân hùng mạnh cả về lực lượng lẫn trang bị vũ khí hiện đại”-ông Chinh tự hào nói.
Những ngày tháng 5 lịch sử, từng dòng người nối nhau đổ về mảnh đất Điện Biên anh hùng. Trong số họ có không ít những chiến sĩ Điện Biên năm xưa trở lại nơi này với những tấm huân-huy chương đỏ thắm đeo trước ngực như một niềm tự hào về một thời “đầu nung lửa sắt”. Họ lặng đi khi gặp lại chiến trường xưa nơi máu của mình và đồng đội đã một thời nhuốm đỏ. “Máu của chúng tôi đã thấm đẫm những cung đường đưa pháo vào trận địa cho những ngày quyết chiến cuối cùng”-ông Phạm Đức Cư (bản Ten B, xã Thanh Xương, huyện Điện Biên) lặng người nhớ lại.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Cư là tham mưu tác chiến ở Tiểu đoàn 394, Trung đoàn Pháo cao xạ 367. Ông Cư nhớ lại: Tháng 12-1953, 2 tiểu đoàn pháo cao xạ của Trung đoàn 367 ở Tuyên Quang nhận được lệnh kéo pháo lên Tây Bắc phục vụ chiến dịch với 2 nhiệm vụ chính là tiếp cận, bảo vệ các sư đoàn bộ binh tấn công vào các cứ điểm của địch và bắn hạ máy bay địch. 17 ngày đêm băng núi, ngủ rừng, 2 tiểu đoàn mới lên đến xã Nà Nhạn (huyện Điện Biên). Tại đây, mỗi tiểu đoàn pháo cao xạ tiếp nhận 12 khẩu pháo 37 mm và 12 khẩu 12,7 mm (mỗi khẩu pháo 37 mm nặng 2,4 tấn, cần 80-100 người kéo ở địa hình dốc) và nhận lệnh tháo rời xe pháo, kéo pháo vào lòng chảo Điện Biên.
“Sau 9 ngày đêm liên tục, chỉ bằng sức người, chúng tôi đã đưa pháo vào áp sát đồi Độc Lập. Lúc này, vì phương châm tác chiến thay đổi nhằm đảm bảo cho chiến dịch thắng lợi, giảm thiểu thương vong, đơn vị được lệnh kéo pháo ra. Hành trình kéo pháo vào đã khó, kéo pháo ra còn khó gấp bội. Đã có những hy sinh trên hành trình đưa pháo ngược trở ra… Sau gần 1 tháng gian nan, vất vả, chiều tối 13-3-1954, các tiểu đoàn pháo cao xạ đồng loạt nhận lệnh khai hỏa vào cứ điểm Him Lam, đồi Độc Lập… 3 ngày sau, quân ta đã chiếm được phân khu 1 của địch ở phía Bắc, gồm: Him Lam, đồi Độc Lập và Bản Kéo... Thế trận pháo cao xạ kết hợp từ Bắc xuống Nam, hình thành thế gọng kìm ôm lấy lòng chảo Điện Biên. Đến ngày 7-5-1954, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm De Castries, Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng!”-ông Cư tự hào kể.
Cuộc sống mới trên chiến trường xưa
Với quyết tâm biến Điện Biên Phủ trở thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, cuối năm 1953, thực dân Pháp đã xây dựng 4 trại tập trung, dồn tất cả người dân trong vùng lòng chảo Mường Thanh lại. Mục đích của địch là cách ly người dân với bộ đội ta, đồng thời biến người dân thành bia đỡ đạn nếu bộ đội ta đánh chiếm cứ điểm Điện Biên Phủ. Trong đó, trại tập trung Noong Nhai (xã Thanh Xương, huyện Điện Biên) có hơn 3.000 người, đa phần là người dân tộc Thái ở các xã Sam Mứn, Thanh An, Noong Hẹt, Thanh Xương. Ngày 13-3-1954, bộ đội ta nổ súng đánh chiếm cứ điểm Him Lam và liên tiếp tiêu diệt các cứ điểm khác làm thu hẹp phạm vi kiểm soát của quân Pháp. Trong lúc nước sôi lửa bỏng, nhằm gây áp lực với quân đội ta, lúc 14 giờ ngày 25-4-1954, thực dân Pháp đã cho máy bay điên cuồng dội bom xuống trại tập trung Noong Nhai. Trận ném bom diễn ra chừng 30 phút đã làm 444 người dân vô tội tử vong, trong đó hầu hết là phụ nữ và trẻ em. Nhiều gia đình không một ai sống sót…
Đoàn cán bộ, viên chức Báo Gia Lai thăm Di tích Hầm chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ảnh: NHẬT CƯỜNG
Đoàn cán bộ, viên chức Báo Gia Lai thăm Di tích Hầm chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ảnh: Nhật Cường
Năm tháng qua đi, người dân Noong Nhai đã hàn gắn những vết thương chiến tranh, vươn lên xây dựng cuộc sống mới. Ông Lò Văn Chung-Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Xương-cho biết: Hiện nay, bản Noong Nhai 1 có 86 hộ, 348 khẩu. Bà con đã vượt qua đau thương, mất mát, quyết tâm vươn lên xây dựng cuộc sống mới. Từ chỗ có gần 100% hộ nghèo, đến nay bản không còn hộ nghèo; bình quân thu nhập đạt 30 triệu đồng/người/năm. Noong Nhai nói riêng và Thanh Xương nói chung đang từng bước phát triển mạnh mẽ. Nhiều người dân Noong Nhai đã trở thành nông dân sản xuất giỏi, doanh nhân làm giàu chính đáng trên mảnh đất quê hương. Gần 20 năm nay, bản Noong Nhai 1 luôn giữ vững danh hiệu bản văn hóa tiêu biểu, tỷ lệ gia đình văn hóa đạt trên 85%.
Năm 1952, khi vừa tròn 20 tuổi, ông Đỗ Xuân Nhã (hiện là Bí thư tổ dân phố 8, phường Thanh Trường, TP. Điện Biên Phủ) rời miền quê Ninh Giang (tỉnh Hải Dương) lên đường nhập ngũ và được biên chế vào Trung đoàn 176, Đại đoàn 316. Đây là Đại đoàn lưu động đóng quân ở Tây Bắc và hành quân ứng viện cho chiến trường Điện Biên Phủ khi cuộc chiến giữa quân ta và thực dân Pháp đi vào giai đoạn cam go nhất. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, năm 1958, ông xuất ngũ. Là thương binh hạng 4/4, sức khỏe có phần sa sút, ông vẫn quyết tâm đưa gia đình từ Hải Dương lên Nông trường Điện Biên lập nghiệp. “Đất này đã thấm máu của tôi và những đồng đội anh hùng ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Tôi là người may mắn được trở về, sao không vì mảnh đất này mà cống hiến thêm lần nữa?”-ông Nhã nói. Ông Nhã năm nay đã 87 tuổi, có 60 năm tuổi Đảng, được Nhà nước tặng thưởng rất nhiều huân-huy chương ghi nhận sự đóng góp cho vùng đất Điện Biên. Và không chỉ ông Nhã mà sau ngày Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, biết bao thanh niên từ nhiều miền quê đã “bén duyên” ở lại đất này để xây dựng công trình đại thủy nông Nậm Rốm, biến cánh đồng Mường Thanh bom đạn ngày nào thành những ruộng lúa xanh ngắt bốn mùa...
65 năm là một hành trình dài để người dân Điện Biên không chỉ khôi phục vết thương chiến tranh mà còn xây dựng cuộc sống mới. Thành phố Điện Biên Phủ hôm nay đã vươn lên trở thành địa phương có kinh tế khá với tốc độ tăng trưởng bình quân 14%/năm; GDP bình quân đầu người năm 2018 đạt 3.800 USD; thu ngân sách trên địa bàn năm 2018 đạt 292,9 tỷ đồng; hệ thống giao thông phát triển nhanh, các công trình văn hóa, thể thao, hệ thống công sở, trường học, bệnh viện, nhà hàng, khách sạn, trung tâm thương mại được đầu tư xây dựng; 100% dân số được dùng điện... Tự hào về truyền thống đấu tranh anh dũng, là nơi tạo nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, những thế hệ người Điện Biên hôm nay luôn đoàn kết một lòng, chung tay vượt qua khó khăn, xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp...
NHÓM P.V

Có thể bạn quan tâm

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

(GLO)- “Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng”.

“Thần y trị điểu”

“Thần y trị điểu” ở An Khê

(GLO)- Hàng chục năm qua, căn nhà của anh Hoàng Huy (SN 1992, ở tổ 1, phường An Khê, tỉnh Gia Lai) luôn ríu rít tiếng chim. Ở đó, anh Huy âm thầm cứu chữa cho hàng trăm chú chào mào mắc bệnh từ khắp nơi gửi về.

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Vân Anh năm nay 40 tuổi, sống cách Hoàn Kiếm của Hà Nội chỉ hơn chục cây số. Chị từng là giám đốc điều hành của một công ty có hàng trăm nhân viên, quen với áp lực, nhịp sống gấp gáp và những quyết định lớn nhỏ mỗi ngày.

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

(GLO)- Sáng nào cũng vậy, khi mặt trời vừa lên khỏi dãy núi Chư A Thai, ông Nguyễn Kim Tống (thôn Thanh Thượng, xã Chư A Thai) lại tự lái ô tô vượt quãng đường gần 40 km sang xã Pờ Tó để kiểm tra từng khu chuồng trại, từng đàn bò.

Rẫy chung ở Đak Đoa

Rẫy chung ở Đak Đoa

(GLO)- Giữa những đồi cà phê vào độ chín rộ ở xã Đak Đoa, có những khu rẫy không thuộc về riêng một hộ nào. Đó là rẫy chung - mảnh đất “không chia phần” của cộng đồng, nơi bà con cùng góp công vun trồng, chăm sóc qua từng mùa, lặng lẽ tích lũy thành nguồn lực chung để lo việc thôn, việc làng.

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Từng đoàn khách dập dìu men theo con đường nhỏ dẫn vào làng gốm Thanh Hà (phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng). Ngôi làng nhỏ gần 500 năm tuổi bên dòng Thu Bồn, nơi các thế hệ truyền nhau gìn giữ làng nghề nổi danh xứ Quảng.

Bo bo vào mùa đẫy hạt

Bo bo vào mùa đẫy hạt

(GLO)- Cuối năm, trên những nương rẫy vùng cao xã Krong (tỉnh Gia Lai), bo bo (còn có tên gọi khác là cao lương, lúa miến, mộc mạch) bước vào thời điểm chín rộ, hạt căng tròn, báo hiệu mùa thu hoạch đã đến.

Pơtao Apui: Vua Lửa của người Jrai

Pơtao Apui: Vua Lửa của người Jrai

(GLO)- Ở khu vực phía Tây tỉnh, trên vùng đất Chư A Thai, truyền thuyết về Pơtao Apui - Vua Lửa của người Jrai đến nay vẫn còn vang vọng. Điều này không chỉ lưu giữ một di sản độc đáo của Tây Nguyên, mà đang trở thành không gian văn hóa - du lịch.

Mưu sinh bên miệng 'tử thần'

Mưu sinh bên miệng 'tử thần'

Khi màn đêm còn phủ đặc sương mặn, cũng là lúc những chiếc thuyền thúng nhỏ bé bắt đầu nghiêng mình lao vào biển động. Ở các làng chài bãi ngang Quảng Ngãi, mùa mưa bão không phải thời điểm trú ẩn, mà trái lại là “mùa vàng” hiếm hoi.

null