Dấu ấn văn hóa Chăm Pa nơi hạ lưu sông Ba

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Dọc bờ sông Ba về phía hạ lưu, còn đó những vết tích của Vương triều Chăm Pa xưa. Phế tích tháp Bang Keng (xã Krông Năng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai) ẩn mình bên dòng sông huyền sử cùng hiện vật Chăm hiếm quý còn hiện hữu trong đời sống người Jrai bản địa là minh chứng cho thấy vùng đất này từng in hằn dấu chân hành hương của người Chăm cổ xưa.
Chiếc khăn quý của chủ làng
Nghệ nhân Ưu tú Rơ Ô Bhung (buôn Gum Gốp, xã Ia Rmok, huyện Krông Pa) vấn chiếc khăn màu đen tuyền lên đầu một cách thuần thục trước khi hành lễ bên bến nước sông Ba. Hơn nửa thế kỷ làm chủ lễ cho nhiều hoạt động văn hóa từ phạm vi gia đình đến cộng đồng như: lễ thổi tai, ăn trâu, ăn lúa... người dân đã quen với hình ảnh vị già làng Jrai đội chiếc khăn của người Chăm trên đầu. “Đây là chiếc khăn của người Chăm xưa, có tuổi đời khoảng 200-300 năm. Chiếc khăn này có từ đời ông, đến đời cha và bây giờ truyền lại cho mình”-ông nói.
Câu chuyện của già làng Bhung hé lộ thêm thông tin quý về vùng đất được cho là một phần cương vực của Vương triều Chăm Pa cổ hùng mạnh, tồn tại cách đây nhiều thế kỷ. Già làng Bhung cho biết thêm: “Đời ông, đời cha mình là những chủ làng rất giàu có. Cha mình kể, người Chăm và người Jrai thường trao đổi những vật quý với nhau chứ không dùng tiền để mua. Từ nhỏ, mình đã thấy cha đãi khách quý bằng bộ ấm chén đất nung rất đẹp. Cha nói đó là bộ chén quý của người Chăm, được ông nội đổi bằng mấy cặp gạc nai, ngà voi mới có được”.
Già làng Rơ Ô Bhung thành thục vấn chiếc khăn của văn hóa Chăm. Ảnh: Hoàng Ngọc
Già làng Rơ Ô Bhung thành thục vấn chiếc khăn của văn hóa Chăm. Ảnh: Hoàng Ngọc
Là con của vị chủ làng giàu có, từ nhỏ, Nghệ nhân Ưu tú Rơ Ô Bhung thường được cha đặt trên lưng con voi có cặp ngà dài cả sải tay cưỡi đi khắp vùng. Trong trí nhớ của vị già làng đã đi qua 85 mùa rẫy, cha ông là một chủ làng rất uy nghi. Ông thường vấn chiếc khăn đen, cưỡi voi đi giải quyết mọi chuyện lớn nhỏ trong làng, đến đâu cũng khiến mọi người kính nể. “Ông nói đây là biểu tượng của văn hóa Chăm Pa, người Jrai đội khăn Chăm thể hiện sự hòa hợp, giao hảo giữa 2 dân tộc. Sau khi cha qua đời, ông để lại cho mình một số chiếc khăn cùng nhiều hiện vật quý. Những năm kháng chiến chống Mỹ, khi cả làng đều phải rút vào rừng núi để tránh bom đạn, mình chỉ mang theo được mấy chiếc khăn. Nhà cửa, buôn làng đều bị đốt cháy tan hoang nên các hiện vật Chăm cũng mất hết. Con voi nhà trúng nhiều vết đạn nằm chết cùng đàn ngựa”-già làng nhớ tiếc ngậm ngùi.
Ba chiếc khăn Chăm mà già làng Bhung còn lưu giữ tới bây giờ có chiều dài 2,5 m, rộng 50 cm. Mấy trăm năm trôi qua, chiếc khăn vẫn giữ nguyên màu đen tuyền. Mân mê chiếc khăn, già làng cảm thán: “Người Chăm có kỹ thuật nhuộm màu đỉnh cao. Nó rất nhanh khô, bền chắc và không hề phai màu khi giặt”.
Bên dòng sông linh thiêng
Già làng Bhung cho biết: Trước đây, ở khu vực buôn Túi (xã Ia Rmok) nằm bên bờ sông Ba còn có một móng tháp hình vuông được làm từ loại gạch nung đặc trưng của người Chăm. “Năm 1999, trận lũ lịch sử quét qua buôn Túi, cuốn theo nhiều nhà cửa của người dân, đồng thời xóa sạch dấu vết của phế tích Chăm này. Sau đó, mấy chục nóc nhà của người dân trong buôn được di dời lên nơi ở mới gần đường chính. Phế tích Chăm chỉ còn lại trong trí nhớ của số ít người già”-ông kể.
Nhưng vùng đất từng in hằn dấu chân hành hương của người Chăm xưa vẫn còn đó những phế tích gợi lại hào quang quá khứ. Xuôi theo dòng sông huyền sử về phía hạ lưu, chúng tôi đi tìm tháp cổ Bang Keng (xã Krông Năng) sau hơn 1 thập kỷ được khai quật phục vụ công tác nghiên cứu. Và cũng từ đó, phế tích ngủ yên cho tới bây giờ.
Hiện trạng phế tích tháp Bang Keng, xã Krông Năng, huyện Krông Pa. Ảnh: Hoàng Ngọc
Hiện trạng phế tích tháp Bang Keng, xã Krông Năng, huyện Krông Pa. Ảnh: Hoàng Ngọc
Từ xa, phế tích Bang Keng chỉ là một lùm cây xanh hướng về mặt nước mênh mang, nơi hợp lưu của dòng Krông Năng và sông Ba trước khi xuôi về hạ lưu. Nắng sớm dát ánh sáng lộng lẫy trên mặt nước mang màu phù sa. Mây trắng bay la đà trên nền tháp cổ. Dù đền tháp giờ chỉ còn là những viên gạch phủ rêu xanh, nhưng trước khung cảnh ấy, tôi chợt liên tưởng đến cảm giác đi thuyền dọc dòng sông Chao Phraya trên đất nước Thái Lan để chiêm ngưỡng những đền đài tráng lệ cổ xưa mang đậm dấu ấn tôn giáo của đất nước chùa Vàng.
Bảo vệ khẩn cấp
Tháp cổ Bang Keng được phát hiện vào những năm 2005-2006. 4 năm sau đó (tháng 6-2010), UBND tỉnh cấp kinh phí để khai quật phục vụ nghiên cứu. Qua đó, các nhà nghiên cứu nhận định đây là đền thờ của người Chăm cổ. Lịch sử xây dựng các đền tháp Chăm Pa được ghi nhận kéo dài từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ XVII, trong khi đó, tháp Bang Keng được xác định có niên đại vào khoảng thế kỷ VII-VIII sau Công nguyên. Điều đó cho thấy người Chăm cổ đã có mặt ở vùng hạ lưu sông Ba từ rất sớm, trong buổi đầu xây dựng các tiểu quốc của Vương triều Chăm Pa hùng mạnh kéo dài nhiều thế kỷ sau này. Thạc sĩ Nguyễn Quang Tuệ-Trưởng phòng Quản lý văn hóa (Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch) cho biết: Người Pháp từng công bố bản đồ tháp Chăm ở Việt Nam nhưng không có tháp Bang Keng. Với phát hiện phế tích Chăm cổ ở bờ sông buôn Jú (xã Krông Năng) đã chấm thêm một vị trí vào bản đồ phân bổ các đền tháp Chăm Pa. Hai bức phù điêu Phật được công nhận là Bảo vật quốc gia hiện được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh có thể có nguồn gốc từ tháp Bang Keng vì có cùng niên đại.
Đường vào tháp cổ Bang Keng đi qua những cánh rẫy của người Jrai. Ảnh: Hoàng Ngọc
Đường vào tháp cổ Bang Keng đi qua những nương rẫy của người Jrai. Ảnh: Hoàng Ngọc
Tiếc là, sau 12 năm khai quật, vẫn chưa có một bước tiến nào để phát huy giá trị của phế tích Chăm cổ này. Ông Ngô Đức Mạo-Giám đốc Trung tâm Văn hóa-Thông tin và Thể thao huyện Krông Pa-cho biết: “Tháp cổ Bang Keng dù chỉ còn là phế tích nhưng đây là minh chứng khẳng định sự tồn tại của người Chăm cổ trên vùng đất Krông Pa, đặc biệt từng có thời kỳ người Chăm và người Jrai cùng sinh sống và có sự giao lưu văn hóa. Do đó, các phế tích cần được bảo vệ và nghiên cứu để làm rõ giá trị về mặt văn hóa-lịch sử. Ở cấp độ địa phương, chúng tôi đã khoanh vùng bảo vệ, dựng bia để người dân biết nhằm tránh xâm hại. Phế tích của nền văn minh rực rỡ cần tiếp tục được nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ cao hơn”.
Dẫu muộn nhưng huyện Krông Pa cũng cần có kế hoạch lập hồ sơ để công nhận di tích cho tháp cổ Bang Keng, từ đó mới có cơ sở pháp lý để bảo vệ, phát huy giá trị và xa hơn là nghiên cứu sâu về nền văn hóa Chăm Pa từng phát triển rực rỡ ở vùng hạ lưu sông Ba.
HOÀNG NGỌC

Có thể bạn quan tâm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

(GLO)- Với việc hợp chuẩn OCOP, nhiều sản phẩm thổ cẩm Bahnar, Jrai ở Gia Lai bắt đầu định vị được thương hiệu. Quá trình này có công rất lớn của nhiều phụ nữ, nghệ nhân đã dồn tâm huyết từng bước đưa thổ cẩm truyền thống ra thị trường.

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

(GLO)- Hiểu về văn hóa Tây Nguyên bắt đầu từ những hiện vật dân tộc học, đó cũng là một trong những cách tiếp cận của TS. Lê Quang Lâm (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) khi nghiên cứu về văn hóa của người Jrai. Trong hàng nghìn hiện vật mà ông dày công sưu tầm, có bộ sưu tập tù và Jrai độc đáo.

Suy nghĩ từ những lò gốm cổ

Suy nghĩ từ những lò gốm cổ dọc sông Côn

(GLO)- Dọc theo dòng sông Côn huyền thoại, tuyến giao thương quan trọng từng nối vùng cao nguyên với cửa biển Thị Nại, nếu không để ý kỹ, người ta rất dễ đi ngang qua những gò đất tưởng như bình thường. Nhưng dưới lớp đất trầm mặc ấy là dấu tích của một thời Champa rực rỡ.

Đi con đường ít người đi…

Đi con đường ít người đi…

(GLO)- Giữa nhịp sống hiện đại gấp gáp, có những người chọn lặng lẽ đi ngược dòng thời gian, lần theo dấu vết chữ nghĩa xưa để phục dựng hồn cốt văn hóa một vùng đất. Tiến sĩ Võ Minh Hải-Phó trưởng Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn (Trường ĐH Quy Nhơn), nhà nghiên cứu Hán Nôm - là một người như thế.

Gìn giữ và phát huy giá trị di sản Hán Nôm

Cần phối hợp liên ngành để gìn giữ và phát huy giá trị di sản Hán Nôm

(GLO)- Từ những sắc phong, gia phả, văn tế, địa bạ đến hoành phi, câu đối…, di sản Hán Nôm đang lưu giữ trên vùng đất Gia Lai là lớp trầm tích đặc biệt của lịch sử và văn hóa. Việc nhận diện giá trị, gìn giữ kho tư liệu này sẽ gợi mở con đường bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong đời sống.

null