Xung quanh chiến công của du kích Puih Glớ và đồng đội - Kỳ 1: Du kích Jrai hạ trực thăng chở 2 tướng Mỹ

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng câu chuyện về du kích Puih Glớ (làng Maih, xã B6, huyện 4; nay là xã Ia Hrung, huyện Ia Grai) cùng đồng đội bắn rơi máy bay quân sự Mỹ ngay tại quê hương mình vẫn được nhiều người cao tuổi trong vùng nhắc nhớ và được nhiều tài liệu lịch sử chính thống ghi nhận.

Chiến công của Puih Glớ và những người Jrai đồng hương là một đóng góp rất đáng kể trong lịch sử chiến tranh cách mạng Gia Lai.

Ngày 12-5-1970, chiếc trực thăng chở Thiếu tướng (tướng 2 sao) John Albert Broadus Dillard Jr. (thường được viết tắt là John Dillard hoặc Giôn Đin La), Tư lệnh Công binh quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam và Chuẩn tướng (tướng 1 sao, được phong sau khi chết) Carroll Edward Adams Jr. (thường được viết tắt là Adams) đã bị du kích Puih Glớ và đồng đội bắn rơi. Một câu hỏi thú vị được đặt ra: Trên chiếc trực thăng ấy, thực sự có bao nhiêu người Mỹ đã thiệt mạng?

Không chỉ tiêu diệt 2 tướng Mỹ

Là người thuộc tổ du kích làng Maih và chứng kiến Puih Glớ bắn hạ chiếc trực thăng này, trao đổi với người viết bài vào dịp đầu năm nay, ông Puih Minh (SN 1952, người Jrai làng Grit, xã B6 (cũ) cho biết: Khi máy bay lao xuống đất, các du kích có đến xem, nhanh chóng thu chiến lợi phẩm rồi chạy vào rừng. Chính mắt ông thấy có 2 người Mỹ bị văng ra ngoài, 1 người khác dường như đã trốn thoát từ trước.

Thông tin từ ông Puih Minh về cơ bản trùng với những gì nhiều người đã biết qua các tài liệu lịch sử, báo chí chính thống như sách “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945-2005)” hoặc sách “Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Gia Lai (1945-2005)” và hàng chục công trình cùng loại khác đã viết tương tự.

Ông Puih Minh là người chứng kiến du kích Puih Glớ bắn hạ trực thăng Mỹ ngày 12-5-1970. Ảnh: N.Q.T

Ông Puih Minh là người chứng kiến du kích Puih Glớ bắn hạ trực thăng Mỹ ngày 12-5-1970. Ảnh: N.Q.T

Để khẳng định thêm tầm vóc của chiến công trên, đồng thời góp phần bổ sung thông tin cho lịch sử địa phương, chúng tôi bước đầu tìm hiểu các tài liệu lưu trữ liên quan của Mỹ. Từ một số trang web đáng tin cậy, trong đó có Honor States (honorstates.org), người viết bài này đã hết sức ngạc nhiên khi biết trên chiếc trực thăng bị du kích làng Maih bắn hạ năm xưa, không chỉ có 2 viên tướng Mỹ vừa được nhắc đến thiệt mạng.

Theo số liệu đã được công bố trong nhiều tài liệu, tổng số binh sĩ Hoa Kỳ chết trong vụ này là 10 người. Chỉ có 1 hạ sĩ quan chuyên nghiệp còn sống sót-Trung sĩ chỉ huy Robert Warren Elkey (1923-1998).

Danh sách những người chết trên chiếc trực thăng đã nêu ngoài John Albert Broadus Dillard Jr. (SN 1919) và Carroll Edward Adams Jr. (SN 1923) còn có Đại úy-Trợ lý cấp cao William D. Booth (SN 1941), Thượng sĩ chỉ huy Griffith A. Jones (SN 1925); 2 kỹ sư chiến đấu là Trung tá Fred V. Cole (SN 1931) và Thiếu úy Kenneth F. Rogers (SN 1946); 2 phi công trực thăng gồm sĩ quan chuyên gia Glenn A. Adams (SN 1936) và Đại úy Raymond R. Dulak Jr (SN 1943); 2 thợ máy James H. Rawson (SN 1951) và Steven R. Renner (SN 1949).

Tìm đọc tiểu sử của những người đã thiệt mạng, chúng tôi nhận thấy phần lớn họ được đào tạo bài bản, có kiến thức chuyên sâu, nhiều kinh nghiệm trong quân ngũ. Dillard, Adams và Jones đã từng tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ II và Chiến tranh Triều Tiên trước khi sang Việt Nam. Dillard tốt nghiệp Học viện Quân sự Virginia chuyên ngành Kỹ thuật xây dựng năm 1942 còn Adams từng học tại Học viện Quân sự danh tiếng West Point của Mỹ. West Point cũng chính là cơ sở đào tạo mà William D. Booth đã tốt nghiệp năm 1966. Người lớn tuổi nhất thiệt mạng trong chiếc máy bay bị hạ là tướng Dillard (51 tuổi), người lính trẻ nhất là thợ máy 19 tuổi, Rawson.

Tướng John Dillard là một người có nhiều công trạng với quân đội Mỹ. Dillard bắt đầu cuộc đời binh nghiệp từ năm 1942 trong Đại chiến thế giới lần thứ II (1939-1945). Giai đoạn này, Dillard là lãnh đạo cấp trung đội rồi đại đội trên chiến trường châu Âu, tham gia cuộc đổ bộ Normandy dưới sự chỉ huy của tướng George Patton vào ngày 6-6-1944.

Từ tháng 7-1952 đến tháng 7-1953, Dillard là sĩ quan điều hành cấp tiểu đoàn trong Sư đoàn Bộ binh 25 tại Triều Tiên. Khi còn là chuẩn tướng, Dillard là Tư lệnh Phân khu Nam Thái Bình Dương của Quân đoàn Công binh Hoa Kỳ tại San Francisco, California. Được điều động sang Việt Nam vào tháng 11-1969 làm Tư lệnh Bộ Chỉ huy Công binh lục quân Mỹ tại miền Nam Việt Nam, Dillard được thăng cấp lên Thiếu tướng. Vùng đất Ia Hrung ngày nay chính là nơi đã khép lại sự nghiệp của Dillard.

Theo tài liệu, sau “tai nạn trực thăng”, Dillard được chôn cất tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington ở Arlington, Virginia. Cái tên John Albert B. Dillard Jr. cũng được khắc trên bảng 10W, dòng 023 tại Đài tưởng niệm cựu chiến binh Việt Nam (Vietnam Veterans Memorial) ở thủ đô Washington D.C, Mỹ.

Hàng loạt tờ báo, các hãng thông tấn lớn trên thế giới như The New York Times, The New York Post, BBC, AP, Reuters… đã dành sự quan tâm đáng kể cho sự kiện máy bay trực thăng của quân đội Mỹ bị bắn rơi năm 1970.

Các bài viết, bản tin liên quan thường nhắc đến sự thiệt hại về nhân mạng của các binh sĩ thuộc quân đội Mỹ. Theo đó, John Dillard là viên tướng cuối cùng bị chết trong chiến tranh Việt Nam. Sau báo chí, hàng loạt sách viết về công binh Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam những năm tháng ấy cũng không quên nhắc đến John Dillard từ nhiều góc độ.

Về người thoát chết

Bay cùng Thiếu tướng John Dillard trên chiếc trực thăng ngày 12-5-1970 phần lớn là các sĩ quan ưu tú, quân nhân chuyên nghiệp cấp cao. Điều này cũng dễ hiểu, bởi nhiệm vụ của họ khi đó là bảo vệ và tham mưu cho tướng Dillard trong chuyến thị sát tuyến đường 509 (Highway 509, nay là tỉnh lộ 664, nối TP. Pleiku với huyện Ia Grai).

Tuy nhiên, Dillard cùng các quân nhân Mỹ không được các du kích Jrai cho cơ hội để hoàn thành công việc của mình, như chúng ta đã biết. Người duy nhất sống sót trong trường hợp này là Trung sĩ chỉ huy Robert Warren Elkey.

Chỉ vài hôm sau khi chiếc trực thăng nói trên bị bắn hạ, ngày 15-5-1970, tờ Battle Creek Enquirer (tiểu bang Michigan, Mỹ), dẫn nguồn tin từ Hãng thông tấn AP xác nhận Robert W. Elkey là “người đàn ông địa phương Hastings” sống sót duy nhất trong vụ việc (“Hastings man survives Vietnam “copter crash”).

Tướng 2 sao John Dillard, ngoài cùng bên phải (chống nạnh) trước khi bị bắn hạ trên trực thăng ngày 12-5-1970. Ảnh tư liệu: Sưu tầm N.Q.T

Tướng 2 sao John Dillard, ngoài cùng bên phải (chống nạnh) trước khi bị bắn hạ trên trực thăng ngày 12-5-1970. Ảnh tư liệu: Sưu tầm N.Q.T

Bài báo thông tin: Elkey là quân nhân chuyên nghiệp, 47 tuổi nhưng đã có 25 năm phục vụ trong quân đội, thuộc biên chế đơn vị Công binh 937 đóng tại Pleiku và đang thực hiện chuyến công tác thứ hai ở miền Nam Việt Nam.

Elkey còn 66 ngày trong chuyến công tác này tại miền Nam Việt Nam trước khi được điều động sang Đức. Elkey bị thương khi máy bay trực thăng trúng hỏa lực mặt đất của đối phương, rơi ở một địa điểm cách Pleiku 10 dặm về phía Tây Nam. Quân nhân Elkey được thông báo là đang trong tình trạng nghiêm trọng tại một bệnh viện ở Việt Nam do bị gãy nhiều xương sườn.

Theo bài báo, Robert W. Elkey có vợ là Phyliss và 2 con trai. Một người con trai của Elkey là Trung úy Robert J. Elkey cũng đang đóng quân gần Sài Gòn, khi đó. Tất nhiên, không chỉ có bài viết vừa nêu mà một số tờ báo lớn trên thế giới và các hãng tin uy tín toàn cầu cũng đều nhắc đến vụ máy bay trực thăng bị bắn hạ tại huyện Ia Grai ngày nay, như chúng ta đã biết.

Trong quá trình tìm hiểu câu chuyện khá ly kì và hy hữu này, chúng tôi tìm thấy bài phỏng vấn Elkey khá dài vào năm 1972. Dẫu là về chuyên ngành công binh, phỏng vấn này cho biết, sau khi thoát chết, Elkey vẫn tiếp tục công việc đã được đào tạo của mình. Tiếp tục tìm kiếm tài liệu từ lĩnh vực công binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, chúng tôi lần lượt đọc ngẫu nhiên một số cuốn sách khác, phần lớn được viết bởi các tác giả là người trong cuộc.

Trong cuốn “Vietnam Studies: U.S. Army Engineers, 1965-1970” (Nghiên cứu Việt Nam: Công binh quân đội Hoa Kỳ, 1965-1970) được viết bởi tướng Robert R. Ploger, xuất bản tại Mỹ năm 1974, khẳng định Elkey là người duy nhất sống sót sau khi máy bay bị hạ (Robert W. Elkey was the sole survivor).

Tương tự, sách “Engineers at War” (Công binh trong chiến tranh) của tác giả Adrian G. Traas, xuất bản tại Mỹ năm 2015 cũng viết gần giống với tác phẩm vừa dẫn phía trên khi tiếp tục khẳng định binh sĩ này là người duy nhất ở đơn vị 937 sống sót (Robert W. Elkey of the 937th Group was the sole survivor).

Trước đó, cuốn “Thirteen Months, Fourteen Days The Journey” (Chuyến du hành 13 tháng, 14 ngày) xuất bản năm 2010 tại Mỹ cũng nhắc đến vụ việc này, rằng “Elkey chính là quân nhân duy nhất còn sống; người may mắn này cũng đồng thời là bạn tốt, là thầy của tác giả sách”-William E. Mattatall (Robert W. Elkey, who was the only survivor that day, also a good friend as well as my mentor).

Và trong nỗ lực tìm hiểu về nguyên nhân dẫn đến may mắn thoát chết của Trung sĩ Robert W. Elkey, chúng tôi tìm được một cuốn sách khác. Theo thông tin từ tướng quân đội hồi hưu John W. Morris trong cuốn “Engineer Memoirs” (Ký ức công binh) xuất bản tại Mỹ năm 2000, quân nhân Elkey là người đã bị văng ra khỏi máy bay, bị thương nặng nhưng không chết như những đồng đội còn lại của anh ta (Elkey was thrown out the chopper, badly wounded and fortunate to survive. Everyone else was killed). Như vậy, nếu thông tin từ cuốn sách “Engineer Memoirs” là chính xác thì bằng một cách nào đó, Trung sĩ Robert W. Elkey đã ở ngoài trực thăng khi chiếc máy bay bị bắn từ mặt đất.

...Những du kích Jrai cách đây hơn 50 năm chắc chắn không thể biết trên chiếc trực thăng mà họ bắn hạ lại có đến hàng chục binh sĩ cao cấp của quân đội Hoa Kỳ. Họ càng không thể biết, trong sự kiện đã được các tài liệu lịch sử chính thống ghi nhận ấy, có một quân nhân Mỹ sinh năm 1923 may mắn thoát chết, tiếp tục cuộc sống của mình cho đến năm 1998. Dù vậy, với chiến công này, những người nông dân buộc phải cầm súng ở làng Maih năm xưa đã đóng góp vào thành tích chung của địa phương và đất nước.

Có thể bạn quan tâm

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

(GLO)- Ẩn giữa rừng sâu xã Krong (tỉnh Gia Lai), những căn lán nhỏ được dựng ngay dưới gốc giáng hương cổ thụ. Đó là nơi lực lượng bảo vệ rừng ăn ngủ, thay nhau canh giữ từng cây hương quý - những “báu vật” của đại ngàn.

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí bầu cử nơi biên giới

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí ngày hội lớn của toàn dân nơi biên giới

(GLO)- Những ngày cận kề cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Mơ (tỉnh Gia Lai) phối hợp với chính quyền, già làng, người uy tín đến từng làng tuyên truyền, vận động bà con sẵn sàng tham gia ngày hội lớn của toàn dân.

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Khi phố xá đã lên đèn và nhiều gia đình yên giấc, trên những tuyến đường thuộc xã Long Hải (TPHCM) vẫn có những ánh đèn xe lặng lẽ di chuyển. Đó là ánh đèn của Đội SOS Long Hải - nhóm thanh niên tình nguyện đã suốt 7 năm qua hỗ trợ người dân gặp sự cố giao thông trong đêm.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

(GLO)- “Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng”.

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng

(GLO)- Một ngôi làng Bahnar không người ở, bị "bỏ quên" giữa núi rừng Tây Nguyên nhưng vẫn hấp dẫn nhiều du khách ghé thăm nhờ vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên và kiến trúc nhà truyền thống. Đó là làng Kon Sơ Lăl cũ (xã Ia Khươl, tỉnh Gia Lai).

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Vân Anh năm nay 40 tuổi, sống cách Hoàn Kiếm của Hà Nội chỉ hơn chục cây số. Chị từng là giám đốc điều hành của một công ty có hàng trăm nhân viên, quen với áp lực, nhịp sống gấp gáp và những quyết định lớn nhỏ mỗi ngày.

Rẫy chung ở Đak Đoa

Rẫy chung ở Đak Đoa

(GLO)- Giữa những đồi cà phê vào độ chín rộ ở xã Đak Đoa, có những khu rẫy không thuộc về riêng một hộ nào. Đó là rẫy chung - mảnh đất “không chia phần” của cộng đồng, nơi bà con cùng góp công vun trồng, chăm sóc qua từng mùa, lặng lẽ tích lũy thành nguồn lực chung để lo việc thôn, việc làng.

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Từng đoàn khách dập dìu men theo con đường nhỏ dẫn vào làng gốm Thanh Hà (phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng). Ngôi làng nhỏ gần 500 năm tuổi bên dòng Thu Bồn, nơi các thế hệ truyền nhau gìn giữ làng nghề nổi danh xứ Quảng.

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

(GLO)- Trên vùng đất cát trắng bạc màu, “khỉ ho cò gáy”, nông dân Nguyễn Xuân Ánh (SN 1972, thôn Thuận Phong, xã Hội Sơn) đã bền bỉ dựng nên một trang trại tổng hợp gần 10 ha, bình quân lợi nhuận 500 - 700 triệu đồng/năm.

null