Tuyệt kĩ bắt cá gần bờ

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Mỗi ngày người dân Quảng Nam chèo thuyền thúng chở theo ngư cụ cách bờ biển gần một hải lý kéo lưới khai thác hải sản. Ngày may mắn, một mẻ lưới thu gần tấn cá, bán được 30 triệu đồng, chia đều cho 12 người.
Sáng sớm, trên bãi biển xã Duy Hải (huyện Duy Xuyên, Quảng Nam) dày đặc dấu chân ngư dân hằn trên cát.  Người đang đánh bắt cá, người chờ từng mẻ lưới kéo vào bờ cá nằm gọn phía trong để lựa chọn thu mua kịp đem ra phiên chợ sáng bán.
Cũng giống như mọi người dân trong vùng, lão ngư Nguyễn Nô (thôn Tây Sơn Đông) rời nhà từ 5 giờ sáng để hành nghề. Ông Nô có khuôn mặt làn da đen sạm đứng trên bờ hướng đôi mắt chăm chú nhìn ra từng con sống xô vào vờ để bủa lưới.
 
Ngư dân gánh thuyền và ngư cụ ra biển thả lưới
“Sóng lớn, nước chảy mạnh cá dạt vào gần bờ trú ngụ, lúc đó thả lưới xuống đánh bắt được nhiều”, lão ngư 61 tuổi nói về kinh nghiệm và giải thích thêm sóng xô bờ càng mạnh, có nghĩa nước trong lòng biển dao động lớn thì cá dạt vào gần bờ ở.
Bằng đôi mắt và kinh nghiệm hơn 30 năm làm nghề truyền thống kéo lưới khai thác hải sản gần bờ, lão ngư Nô xác định được vị trí có luồng cá đang ở. Ông cùng 12 lao động nhanh chóng đưa khối tài của mình gồm, một chiếc thuyền thúng rộng khoảng 5m2 được quét đặc quánh lớp dầu rái phía ngoài ngăn nước chảy vào và cùng tấm lưới dài 400 m, cao 5 m đưa lên thuyền.
Tấm lưới phía trên kết phao, phía dưới kết chì dày đặc, ở phía giữa có một túi để gom cá mắc vào. Ngoài ra hơn 1.000 m dây thừng đưa được lên thuyền thúng. Hai đòn gánh, mỗi chiếc làm bằng một khúc tre lớn bằng cổ chân buộc vào thuyền cùng với bốn người đàn ông nhắc lên, số người còn lại dùng sức đẩy đi trên mặt cát ra đến đoạn giáp nước để bắt đầu vượt sóng.
Những cột sóng vỗ bờ cao gần 1m xô đẩy liên hồi nhưng không ngăn nổi chiếc thuyền thúng bé nhỏ có bốn người ngồi trên vươn ra biển. Trước khi rời bến, đầu tấm lưới được buộc vào sợi dây thừng và một người đứng trong bờ cầm lấy, thuyền vừa di chuyển thì người này có nhiệm vụ thả dây. Khi thuyền cách bờ hơn 500 m, hai người làm nhiệm vụ chèo thuyền, hai người buông lưới xuống nước.
Sau 30 phút tấm lưới dài gần nửa km đã thả xong chạy dọc song song với bờ biển. Lúc này thuyền cập bờ và nhóm lao động chia ra thực hiện công việc. Mỗi đầu lưới được buộc dây và 6 người phối hợp nhịp nhàng kéo.
 
Sáu người đứng trong bờ kéo một đầu lưới khi mặt trời chưa lên
“Tấm lưới xuống nước gặp con sóng sẽ có sức nặng, cùng khối chì của lưới nên nặng cả tấn, do đó chúng tôi phải kết hợp nhuần nhuyễn tạo ra lực đồng đều kéo. Để trợ lực, mỗi người buộc một vòng dây vào bụng sau đó nối vào dây, cách làm này giữ cho lưới không bật ra ngoài khi sóng xô ra”, lão ngư Nô chia sẻ.
Lợi dụng con sóng xô vào bờ, nhóm ngư dân đứng trên đất liền kéo lưới đi vào, sóng đẩy ra thì giữ lại, công việc được lặp đi lặp lại như vậy. Sau hai giờ vật lộn với nước biển, tấm lưới nằm cách bờ khoảng 100 mét thì công việc bắt đầu hối hả. Hai đầu dây được gom lại tạo thành một vòng tròn và những người đàn ông khỏe mạnh lội ra nơi nước đến ngang bụng gom lưới ngăn cá thoát ra ngoài.
Khi lưới gom lại khoảng 30m2 thì cá nằm phía trong chao lượn tìm cách thoát ra ngoài, tuy nhiên phía đáy chì đã bịt lối, phía trên phao nổi lên mặt nước ngăn lại. Hai người được phân công ghép đáy lưới, hai người ghép phao lưới để khóa lưới, số người còn lại nhẹ nhàng kéo vào bờ. Túi lưới được vào bờ đựng hơn 1 tấn cá nục, cá cơm, cá chim, cá sòng, cá nhồng… nhảy đành đạch trong tiếng reo hò vui mừng của ngư dân.
“Mẻ lưới trúng đậm rồi, với giá bán cá nhỏ 30.000 đồng một kg, cá lớn từ 70.000 đồng đến 200.000 đồng mỗi kg thu về hơn 30 triệu đồng. Mẻ lưới này được xếp vào loại trúng đậm do gặp phải đàn cá”, ông Nô hạch toán và cho hay một ngày nhóm của ông kéo khoảng 4 mẻ lưới, nghề này không làm vội được, quá trình kéo lưới rất chậm.
 
Sau 2 giờ tấm lưới dài 400 m được kéo vào bờ
Theo ông Nô nghề kéo lưới bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 6 âm lịch, đây là khoảng thời gian cá vào bờ nhiều nên đã trở thành nghề truyền thống của ngư dân. Một người bỏ vốn đầu tư mua ngư cụ khoảng 20 triệu đồng rồi kêu gọi lao động trong địa phương đi đánh bắt. Thành quả thu lại người chủ hưởng 40 phần trăm, số tiền còn lại chia đều cho mọi người tham gia công việc.
“Ngày may mắn một nhóm chúng tôi thu về hai tấn cá, thu nhập khoảng 60 triệu đồng. Tuy nhiên lộc biển nên có ngày chỉ bắt được vài chục kg, mỗi người thu được vài chục ngàn đồng là bình thường”, ông Nô bộc bạch.
Tham gia kéo lưới công việc cùng ông Nô, cụ Nguyễn Thị Cạ (81 tuổi) chia sẻ, đây là nghề truyền thống gắn bó từ nhỏ. Cuộc đời của bà bám lấy tấm lưới để mưu sinh, nuôi con cái ăn học và nay tuổi đã lớn nhưng vào vụ thì không thể bỏ nghề.
 
Cụ Nguyễn Thị Cạ tham gia kéo lưới ở tuổi 81
“Ngày đánh bắt nhiều tôi thu được tiền triệu, ngày ít vài chục ngàn, đồng thời giải quyết được thời gian rảnh rỗi của tuổi già”, cụ Cà nói và cho biết trong vùng có 10 nhóm chuyên kéo lưới.
Ông Nguyễn Năm, xã Duy Hải có 12 người đang làm việc bên bờ biển. Ông cũng như mọi người trong làng ra biển từ sớm đánh bắt cá. Ngư cụ đều giống nhau, quá trình kéo lưới cũng tương tự. Vào mùa, ông Năm mang lưới ra đánh bắt, khi hết mùa lại làm lao động trên những con tàu công suất lớn đánh bắt xa bờ.
Theo ông Năm, cũng là nghề biển nhưng đánh bắt gần bờ sáng đi làm, chiều tối về nhà không phải lênh đênh trên biển dài ngày. “Ngày con nước chảy mạnh thì đánh bắt được nhiều, ngày biển êm thì thu về ít. Vào vụ đánh bắt thì ngày nào cũng phải gắn bó mưu sinh, không thể bỏ sót”, đôi tay ông Năm chai sạn do cầm sợi dây kéo cả ngày nói và tâm sự với ngư dân nơi đây từng mẻ lưới kéo cá nằm đầy phía trong tiếng cười nói rôm rả, mẻ lưới ít cá thì động viên nhau nhanh chóng kéo mẻ khác tìm kiếm vận may.
 
Lưới được tạo thành vòng tròn để gom cá mắc vào túi
 
Thương lái đến lựa chọn thu mua cá
Lộc Hà (Nông Nghiệp Việt Nam/Kiến thức gia đình số 13)

Có thể bạn quan tâm

Một góc trung tâm xã Kon Chiêng.

Đánh thức Kon Chiêng

(GLO)- Từ quốc lộ 19 rẽ vào tỉnh lộ 666 khoảng 40 km thì đến xã Kon Chiêng. Hai bên đường là những triền mía xanh mát, thấp thoáng những mái nhà sàn trong không gian xanh thẳm của núi rừng, gợi về một Kon Chiêng đang vươn mình đổi thay.

Những chiếc bè nuôi thủy sản của ngư dân bị sóng đánh vỡ tan, trôi dạt ven biển.

Xác xơ làng chài sau cơn bão dữ...

(GLO)-Sau cơn bão dữ Kalmaegi (bão số 13), những làng chài vốn yên bình, đầy sinh khí bỗng chốc trở nên xác xơ, trơ trọi và ngổn ngang chỉ sau vài giờ bão quét qua. Cảnh quan rồi sẽ dần hồi phục, nhưng những mất mát, tổn thất vẫn sẽ đè trĩu trên đôi vai người dân ven biển rất lâu nữa...

Cảnh hoang tàn, đổ nát ở làng chài Nhơn Lý, Gia Lai. Ảnh: Đức Nhật

Gượng dậy sau bão

Bão Kalmaegi (bão số 13) đã tan, trên dải đất ven biển Gia Lai, Đắk Lắk, người dân lặng lẽ nhặt lại từng tấm tôn, viên ngói, gom góp chút bình yên từ đống hoang tàn.

Giữa tầng mây giữ trời

Giữa tầng mây giữ trời

(GLO)- Đỉnh Hàm Rồng cao hơn 1.000 m so với mực nước biển. Sườn núi sương mờ bao phủ này là nơi cán bộ, chiến sĩ Đài Quan sát thuộc Đại đội Thông tin (Phòng Tham mưu, Lữ đoàn Pháo phòng không 234, Quân đoàn 34) đồn trú.

Sống chậm với đĩa than trong thời đại số - Kỳ 1: Sự hồi sinh của dòng đĩa Vinyl

Sống chậm với đĩa than trong thời đại số - Kỳ 1: Sự hồi sinh của dòng đĩa Vinyl

Trong thời đại mà một thiết bị đeo tay có thể chứa đến 60 triệu bài hát, việc lựa chọn nghe nhạc từ một chiếc đĩa than tưởng như là lỗi thời. Nhưng thực tế, đó lại là biểu hiện của một xu thế tìm lại sự nguyên bản, chậm rãi và thật lòng trong trải nghiệm thưởng thức.

Sợi tơ mong manh kết nối trăm năm

Sợi tơ mong manh kết nối trăm năm

Khi nói đến sưu tầm đồ cổ ở Việt Nam, người ta thường nghe tới đồ gốm, sành sứ, hay đồ gỗ… chứ ít ai biết đến những món đồ vải mà qua đó thể hiện tay nghề thêu huy hoàng, vang danh thế giới của người Việt hàng trăm năm trước.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Kỳ lọt Top 2% nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Kỳ và hành trình vào top 2% nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới

(GLO)- Với nghiên cứu về ô nhiễm vi nhựa và công nghệ xử lý nước thải, Tiến sĩ Nguyễn Minh Kỳ (SN 1985, Phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tại Gia Lai) được Đại học Stanford (Mỹ) và Nhà xuất bản Elsevier vinh danh trong top 2% nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025.

Người lưu giữ hàng trăm “báu vật” Chư A Thai

Người lưu giữ hàng trăm “báu vật” Chư A Thai

(GLO)- Ở xã Chư A Thai (tỉnh Gia Lai), có một người đàn ông gắn bó cả cuộc đời với những “ký ức triệu năm” còn sót lại dưới lòng đất. Gần 25 năm qua, ông Rcom Sin đã lặng lẽ sưu tầm và trân trọng gìn giữ rất nhiều khối gỗ hóa thạch kết tinh của đất trời.

Sê San: Sông kể chuyện đời…

Sê San: Sông kể chuyện đời…

(GLO)- Dòng Sê San miệt mài chở nặng phù sa; sóng nước bồng bềnh không chỉ kể câu chuyện mưu sinh, bảo vệ phên giậu, mà còn gợi mở tương lai phát triển bền vững, góp phần khẳng định vị thế của vùng biên trong hành trình dựng xây quê hương, đất nước.

Ông Ksor Yung có lối sống trách nhiệm, gần gũi nên được mọi người quý mến. Ảnh: R’Ô Hok

Ksor Yung: Từ lối rẽ sai lầm đến con đường sáng

(GLO)- Từ một người từng lầm lỡ, ông Ksor Yung (SN 1967, ở xã Ia Rbol, tỉnh Gia Lai) đã nỗ lực vươn lên trở thành người có uy tín trong cộng đồng. Ông tích cực tham gia vận động, cảm hóa những người sa ngã, góp phần giữ gìn an ninh trật tự và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

Thôn Lao Đu giữa bát ngát núi rừng Trường Sơn

Lao Đu đã hết lao đao

Nằm bên đường Hồ Chí Minh huyền thoại, cuộc sống của hơn 150 hộ dân thôn Lao Đu, xã Khâm Đức, TP Đà Nẵng nay đã đổi thay, ngôi làng trở thành điểm du lịch cộng đồng giữa bát ngát núi rừng. 

Bền bỉ gieo yêu thương nơi vùng đất khó

Bền bỉ gieo yêu thương nơi vùng đất khó

(GLO)- Giữa bao thiếu thốn của vùng đất Pờ Tó, có một người thầy lặng lẽ, bền bỉ gieo yêu thương cho học trò nghèo. Thầy không chỉ dạy chữ mà còn khởi xướng nhiều mô hình sẻ chia đầy ý nghĩa như: “Tủ bánh mì 0 đồng”, “Mái ấm cho em”, “Trao sinh kế cho học trò nghèo”.

null