Tính nhân văn trong lời khấn ở các lễ hội của người Tây Nguyên

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Trong các nghi lễ của các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên, lời khấn là một thành tố nghi thức không thể thiếu, dù đó là của riêng thành viên hay của chung cộng đồng buôn làng. Hầu hết những lời khấn đều có nội dung gần giống nhau và mang giá trị nhân văn sâu sắc, mong muốn đem đến sự bình yên cho con người và cộng đồng, hướng đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Lời khấn do người chủ lễ được buôn làng cử ra, là nhân vật có uy tín hay một già làng đọc thuộc (có thể đọc suông hay đọc có âm điệu) khi bước vào chính buổi lễ cúng. Đó cũng là lời tấu trình một cách thành kính, chân phương đến các vị thần linh (Yàng) để xin thần chứng giám, chấp thuận cho lời cầu xin mà độ trì, ban điều lành cho thành viên hay cả cộng đồng. Lễ vật được dâng cúng là các con vật hiến tế, thường là gà, heo, trâu, bò… và rượu cần.

Ông Rơ Lan Hieo-phụ tá Vua Lửa thứ 14 (đứng) thực hiện nghi lễ cúng cầu mưa trên núi Chư Tao Yang, xã Ayun Hạ, huyện Phú Thiện. Ảnh: Vũ Chi

Ông Rơ Lan Hieo-phụ tá Vua Lửa thứ 14 (đứng) thực hiện nghi lễ cúng cầu mưa trên núi Chư Tao Yang, xã Ayun Hạ, huyện Phú Thiện. Ảnh: Vũ Chi

Chúng ta biết rằng, tín ngưỡng đa thần của các dân tộc bản địa Trường Sơn-Tây Nguyên là nét văn hóa đặc thù, tồn tại trong cộng đồng khá lâu đời. Họ quan niệm, các vật vô sinh hay hữu sinh đều có Yàng cư ngụ.

Thế giới thần linh của người Bahnar có 3 lực lượng: Thứ nhất, đứng đầu là các Yàng, như Yàng Keiđei (thần tạo ra thế giới), Yàng Glaih (thần Sấm Sét), Yàng Hri (thần Lúa)…; thứ hai là các kiăk hay atâu (vong hồn); thứ ba là các pa rang (thần Dịch bệnh). Chính vì vậy, một người muốn vào rừng chặt hạ cây về làm nhà thì cũng phải khấn xin thần Cây cho phép và nói rõ lý do đốn cây để làm gì; hay người làng đi săn chim thú, phải khấn xin thần Rừng cho anh được toại nguyện vì phải có cái ăn cho cá nhân và gia đình.

Nhà nhân chủng học Jacques Dournes, người có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa, phong tục của các dân tộc Tây Nguyên đã viết về mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với súc vật, cây cối và thần linh trong thế giới quan người Jrai: “Cần biết rằng, tất cả những thực thể của thế giới Jrai là người, súc vật, cây cối… và thần linh có mối liên kết chặt chẽ với nhau. Con người không thể làm đứt mối liên kết chặt chẽ này nếu họ muốn sống trong sự hòa hợp, với sự trật tự của muôn vật như là từ khi bắt đầu của vũ trụ… Các mối quan hệ trên được coi như là một sợi dây bền chặt…”.

Vì vậy, tín ngưỡng Yàng của các dân tộc bản địa Tây Nguyên được xem là sợi dây của niềm tin thắt chặt thêm mối quan hệ con người, cộng đồng với môi trường tự nhiên.

Tìm hiểu các lời khấn trong nghi thức của lễ ăn trâu mừng nhà rông mới của người Bahnar hoặc Sê Đăng, tôi được biết: Khi chuẩn bị làm cột gưng (cây cột dùng để buộc trâu), người chủ lễ phải thực hiện nghi thức chọn địa điểm để cắm cột gưng theo kiểu như tung đồng tiền âm dương của người Kinh; sau đó thì đọc lời khấn: “Hỡi thần Sấm Sét! thần Núi, thần Đất, thần Nước! Làng chúng tôi sắp ăn trâu mừng nhà rông mới. Xin thần cho phép chúng tôi chọn vị trí này để đào hố chôn cây gưng. Kính mong các thần đồng ý!...”.

Còn ban đêm, trước khi đốt lửa, người chủ lễ sẽ khấn xin thần Lửa: “Hỡi thần Lửa! Lửa trên rẫy đã tắt. Lửa trong bếp cũng tắt. Hôm nay, làng tôi đốt lửa để mừng nhà rông mới. Xin thần Lửa cho lửa cháy đều, cháy to. Xin cho lửa đừng tắt suốt mùa rẫy, để chúng tôi có lửa nấu ăn; để chúng tôi có lửa sưởi ấm…”.

Ngày hôm sau, trước khi giết con trâu-vật hiến tế, dân làng xoang quanh cột gưng và hát khóc trâu, thể hiện tình thương, lòng biết ơn của cộng đồng làng với con vật gần gũi trong cuộc sống. Lời bài hát với nội dung như một lời cầu xin trâu hãy hiểu và giúp đỡ dân làng, phù hộ cho cả cộng đồng được sức khỏe, làm ăn khá giả: “Này trâu ơi! Hôm nay, mày phải đi, đi về với thần linh. Hãy lên trời để giúp đỡ thần. Cột ăn trâu đã trồng, dây đã tròng cổ mày. Trâu hãy ăn cỏ và cơm rượu (...). Ta thương trâu lắm. Nếu thương dân làng, trâu hãy nói với thần phù hộ cho dân làng sức khỏe, làm ăn tốt, không đau ốm, bệnh tật”.

Còn khi chuẩn bị vào nhà rông mới, người chủ lễ đọc lời khấn Yàng sau cùng: “Hỡi thần Sấm Sét, thần Núi, thần Sông! Xin các thần phù hộ cho dân làng, cho nước chảy đều, mía chuối xanh tươi; trâu bò nhiều như mối, như kiến; con cháu đầy đàn (...). Con người mạnh khỏe không đau ốm. Xin mời các thần xuống vui cùng dân làng, cùng uống rượu cần và ăn gan trâu”.

Có thể thấy, những lời khấn trong nhiều lễ tục khác của người Jrai, Bahnar, Sê Đăng, Ê Đê… như: lễ bắc máng nước, các lễ nghi liên quan đến nông nghiệp, đều có nội dung gần giống nhau và mang giá trị nhân văn sâu sắc, mong muốn đem đến sự bình yên cho con người và cộng đồng, hướng đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Do vậy, cần khuyến khích việc bảo tồn, duy trì các lễ hội truyền thống của các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên trong xu thế hiện đại hóa, đô thị hóa hiện nay.

Có thể bạn quan tâm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

(GLO)- Với việc hợp chuẩn OCOP, nhiều sản phẩm thổ cẩm Bahnar, Jrai ở Gia Lai bắt đầu định vị được thương hiệu. Quá trình này có công rất lớn của nhiều phụ nữ, nghệ nhân đã dồn tâm huyết từng bước đưa thổ cẩm truyền thống ra thị trường.

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

(GLO)- Hiểu về văn hóa Tây Nguyên bắt đầu từ những hiện vật dân tộc học, đó cũng là một trong những cách tiếp cận của TS. Lê Quang Lâm (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) khi nghiên cứu về văn hóa của người Jrai. Trong hàng nghìn hiện vật mà ông dày công sưu tầm, có bộ sưu tập tù và Jrai độc đáo.

Suy nghĩ từ những lò gốm cổ

Suy nghĩ từ những lò gốm cổ dọc sông Côn

(GLO)- Dọc theo dòng sông Côn huyền thoại, tuyến giao thương quan trọng từng nối vùng cao nguyên với cửa biển Thị Nại, nếu không để ý kỹ, người ta rất dễ đi ngang qua những gò đất tưởng như bình thường. Nhưng dưới lớp đất trầm mặc ấy là dấu tích của một thời Champa rực rỡ.

Đi con đường ít người đi…

Đi con đường ít người đi…

(GLO)- Giữa nhịp sống hiện đại gấp gáp, có những người chọn lặng lẽ đi ngược dòng thời gian, lần theo dấu vết chữ nghĩa xưa để phục dựng hồn cốt văn hóa một vùng đất. Tiến sĩ Võ Minh Hải-Phó trưởng Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn (Trường ĐH Quy Nhơn), nhà nghiên cứu Hán Nôm - là một người như thế.

Gìn giữ và phát huy giá trị di sản Hán Nôm

Cần phối hợp liên ngành để gìn giữ và phát huy giá trị di sản Hán Nôm

(GLO)- Từ những sắc phong, gia phả, văn tế, địa bạ đến hoành phi, câu đối…, di sản Hán Nôm đang lưu giữ trên vùng đất Gia Lai là lớp trầm tích đặc biệt của lịch sử và văn hóa. Việc nhận diện giá trị, gìn giữ kho tư liệu này sẽ gợi mở con đường bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong đời sống.

null