Tại Gia Lai, việc cấp mã số vùng trồng, xây dựng các vùng sản xuất theo tiêu chuẩn và quản lý bằng dữ liệu đang tạo nền tảng để nông sản nâng chất lượng, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị.
Mã số gắn với vùng nguyên liệu
Một vùng trồng được cấp mã số phải xác định rõ vị trí, diện tích, hộ sản xuất, chủ thể quản lý; đồng thời đáp ứng yêu cầu về quy trình canh tác, ghi chép nhật ký, kiểm soát sinh vật gây hại và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là được cấp mã mà còn phải duy trì vùng sản xuất đúng quy định.
Tại Hợp tác xã (HTX) Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ - Du lịch nông nghiệp Ia Mơ Nông (xã Ia Ly), việc xây dựng mã số vùng trồng được gắn với mục tiêu mở rộng thị trường, nhất là xuất khẩu.
Hiện HTX có 4 mã vùng trồng sầu riêng với tổng diện tích khoảng 124 ha, 3 mã chanh dây khoảng 63 ha và 1 mã bơ 10 ha; đồng thời đã hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp mã số cơ sở đóng gói.
Ông Lê Văn Thanh - Giám đốc HTX - cho biết, mã số giúp xác định vùng nguyên liệu, hộ sản xuất và quy trình canh tác, tạo điều kiện kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, có mã vùng trồng chưa đồng nghĩa sản phẩm có thể xuất khẩu vào mọi thị trường.
“Muốn xuất khẩu thì không chỉ có mã vùng trồng mà còn phải đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu, trong đó có cơ sở đóng gói. Trước đây, HTX phải liên kết với đơn vị khác có mã số cơ sở đóng gói.
Vì vậy, chúng tôi đang hoàn thiện hồ sơ để chủ động khâu này. Năm nay, HTX xuất khẩu sang Trung Quốc khoảng 5.000 tấn sầu riêng” - ông Thanh nói.
Theo ông Thanh, yêu cầu của các thị trường nhập khẩu ngày càng chặt chẽ, từ quản lý vùng trồng, quy trình sản xuất đến kiểm tra, truy xuất nguồn gốc và cơ sở đóng gói. Điều này buộc HTX và người dân phải thay đổi cách làm, không chỉ quan tâm đến năng suất mà phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng ngay từ vườn.
Tại xã Hra, mã số vùng trồng cũng đang gắn với quá trình hình thành các vùng sản xuất tập trung. Đến nay, xã có 11 mã số với tổng diện tích 167 ha, gồm 7 mã chanh dây 84 ha, 2 mã sầu riêng 23 ha, 1 mã cà phê 40 ha và 1 mã hồ tiêu 20 ha.
Ông Nguyễn Văn Chấn - Phó Chủ tịch UBND xã Hra - cho hay, địa phương giao Phòng Kinh tế làm đầu mối, phối hợp Trung tâm Phục vụ hành chính công hướng dẫn người dân, HTX thực hiện thủ tục, kê khai và cập nhật thông tin vùng trồng.
Địa phương sẽ tiếp tục mở rộng mã số đối với những cây trồng có lợi thế nhưng không chạy theo số lượng. Việc cấp mã phải gắn với chất lượng vùng trồng, chủ thể quản lý, nhật ký sản xuất, quy trình kỹ thuật và khả năng tiêu thụ.
Thực tế cho thấy, duy trì mã số sau khi được cấp cũng là bài toán không nhỏ. Tại xã Hòa Hội, nhóm hộ Vùng trồng dừa Hòa Đại được thành lập tháng 7.2024 với 35 thành viên, diện tích khoảng 15 ha. Sau thời gian đầu hoạt động thuận lợi, nhóm gặp khó khăn do thiếu đầu mối kết nối, đồng hành thường xuyên.
Theo ông Hà Văn Định - đại diện nhóm hộ, một số người từng làm đầu mối do thay đổi công việc nên không còn trực tiếp tham gia, khiến hoạt động của nhóm chững lại. Trong khi đó, các hộ vẫn muốn duy trì vùng sản xuất và thực hiện đúng quy trình.
“Bà con vẫn muốn làm, chỉ cần có người đứng ra kết nối, hướng dẫn để cùng nhau duy trì. Có đầu ra ổn định hơn thì việc giữ vùng trồng, giữ quy trình cũng thuận lợi hơn” - ông Định chia sẻ.
Ở góc độ doanh nghiệp, yêu cầu về vùng nguyên liệu có kiểm soát càng rõ khi hướng tới thị trường khó tính. Bà Rơ Châm Awưnh - Giám đốc Công ty TNHH Chế biến nông sản Jrai Ia Ly (xã Ia Phí) cho biết, công ty đang liên kết với nông dân xây dựng vùng nguyên liệu cà phê khoảng 50 ha. Dù chưa có mã số vùng trồng, công ty đã xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Từ đầu năm 2026 đến nay, công ty đưa khoảng 40 tấn cà phê đạt chứng nhận OCOP 3 sao sang Mỹ theo hình thức ghép hàng để chào hàng, quảng bá sản phẩm và tiêu thụ nội địa khoảng 30 tấn sản phẩm; việc xuất khẩu chính thức theo hợp đồng lớn vẫn đang hoàn thiện điều kiện pháp lý.
“Thị trường khó tính cũng là cách để tập cho mình một thói quen sản xuất bài bản hơn. Từ khâu nguyên liệu, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến truy xuất nguồn gốc đều phải kiểm soát chặt chẽ” - bà Awưnh chia sẻ.
Cùng với mã số vùng trồng, toàn tỉnh hiện có hơn 70.675 ha cây trồng sản xuất theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, Organic, 4C, Rainforest Alliance, FLO và tương đương. Trong đó, VietGAP 6.976 ha, GlobalGAP 6.084,56 ha, 4C 44.246 ha, Organic 194 ha và Rainforest Alliance 13.175 ha.
Tăng tốc chuẩn hóa bằng dữ liệu
Một thay đổi đáng chú ý trong công tác quản lý mã số vùng trồng là trách nhiệm được phân cấp mạnh hơn về cơ sở.
Bà Nguyễn Thị Tố Trân - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường - cho biết, UBND cấp xã chịu trách nhiệm chính trong quá trình quản lý mã số, từ cấp mã thông qua cơ sở dữ liệu dịch vụ công, hậu kiểm, quản lý đến tập huấn, hướng dẫn người dân.
“Sở sẽ tập trung tổ chức tập huấn, hướng dẫn, đào tạo và hỗ trợ các địa phương. Đặc biệt, Sở sẽ giao Trung tâm Khuyến nông đẩy mạnh xây dựng, đào tạo hệ thống tổ khuyến nông cộng đồng.
Đây sẽ là lực lượng trực tiếp đồng hành, hỗ trợ nông dân sản xuất đạt chuẩn, thực hiện ghi chép nhật ký và hoàn thiện điều kiện để được cấp, duy trì mã số” - bà Trân nói.
Theo ông Kiều Văn Cang - Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường), thực hiện Kế hoạch số 331/KH-UBND ngày 20-8-2026 của UBND tỉnh, ngành nông nghiệp đang phối hợp các xã, phường rà soát, thu thập, chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng, trước mắt tập trung vào sầu riêng và cà phê, gắn với cấp mã số và truy xuất nguồn gốc.
Ngành đã tổ chức 61 lớp tập huấn về cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói với 1.863 đại biểu tham dự; thời gian tới tiếp tục tổ chức 15 lớp cho thành viên tổ khuyến nông cộng đồng.
Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cũng đã hoàn thành chuyển đổi các mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sang định dạng mới và gửi thông tin đến UBND các xã, phường để quản lý, kiểm tra, giám sát và duy trì theo quy định.
Đến nay, toàn tỉnh có 497 mã số vùng trồng với tổng diện tích 13.174,23 ha. Trong đó, có 113 mã số vùng trồng phục vụ thị trường trong nước, diện tích 630,89 ha và 384 mã phục vụ xuất khẩu, diện tích 12.712,01 ha. Toàn tỉnh cũng có 61 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu sang Trung Quốc, công suất 3.570-3.840 tấn quả tươi/ngày.
Những con số này cho thấy cấp mã số đang trở thành nhiệm vụ trực tiếp của chính quyền cơ sở. Cấp xã không chỉ tiếp nhận hồ sơ mà phải nắm được vùng sản xuất, hộ dân, quy trình canh tác và những biến động của vùng trồng.
Theo ông Cang, thời gian tới, ngành tập trung hỗ trợ địa phương ở 2 khâu: Hướng dẫn cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; đồng thời kiểm tra, giám sát và duy trì các mã số đã cấp. Bởi nếu không duy trì đúng quy trình, cập nhật biến động và kiểm soát sản phẩm trong vùng, giá trị của mã số sẽ không được bảo đảm.
Do đó, cùng với tăng tốc cấp mã, yêu cầu đặt ra là nâng chất lượng quản lý, cập nhật thường xuyên dữ liệu về vị trí, diện tích, hộ sản xuất, quy trình và nhật ký canh tác.
Mục tiêu không phải chạy theo số lượng mã, mà hình thành những vùng trồng thực sự đạt chuẩn, được quản lý chặt chẽ và có khả năng đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.
Khi vùng sản xuất có địa chỉ rõ ràng, quy trình được ghi nhận và sản phẩm có thể truy xuất nguồn gốc, nông sản Gia Lai sẽ có thêm nền tảng để nâng giá trị, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng hiện đại.
-----------------------
Kỳ cuối: Tạo lực để bứt phá