Với quỹ đất sản xuất lớn, khí hậu, thổ nhưỡng đa dạng và nhiều cây trồng chủ lực, Gia Lai có dư địa phát triển nền nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Ðể biến lợi thế thành sức bật mới, tỉnh đang tập trung khai thác hiệu quả đất đai, chủ động nguồn nước và đầu tư hạ tầng, tạo nền tảng cho sản xuất phát triển bền vững.
Nâng hiệu quả trên từng diện tích
Sau khi hợp nhất địa giới hành chính, Gia Lai có hơn 976.840 ha đất nông nghiệp, trong đó có diện tích lớn đất đỏ bazan thuận lợi phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả. Đây là nền tảng để tỉnh tổ chức lại không gian sản xuất, hình thành các vùng nguyên liệu gắn với thị trường.
Theo ông Kiều Văn Cang - Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường), tỉnh định hướng phát triển 9 vùng nguyên liệu đối với cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, mía, mì, sầu riêng, chuối và chanh dây. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu duy trì, củng cố và mở rộng khoảng 300 - 350 chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ.
Tuy nhiên, mở rộng không đồng nghĩa tăng diện tích bằng mọi giá. Trọng tâm là nâng hiệu quả trên diện tích hiện có, chuyển những cây trồng kém hiệu quả sang loại cây phù hợp điều kiện đất đai, khí hậu, có giá trị kinh tế cao hơn.
Năm 2026, toàn tỉnh chuyển đổi khoảng 8.150 ha cây trồng kém hiệu quả. Tại xã Phú Thiện, mỗi vụ Đông Xuân địa phương chuyển khoảng 400 - 500 ha đất lúa sang trồng khoai lang. Gia đình ông Nguyễn Văn Báu (thôn Thắng Lợi 2), trước đây sản xuất 5 sào lúa. Hơn 4 năm qua, ông chuyển sang trồng khoai lang, sau đó luân canh đậu và lúa vào mùa mưa.
“Trước đây, với 5 sào lúa cho năng suất khoảng 2,5 - 3 tấn, lợi nhuận 5 - 7 triệu đồng. Còn với cây khoai lang có thời điểm được giá khoảng 8.000 - 10.000 đồng/kg, 5 sào cho doanh thu hơn 80 - 100 triệu đồng, lợi nhuận khoảng 20 - 30 triệu đồng” - ông Báu cho biết.
Theo ông Mai Ngọc Quý - Trưởng Phòng Kinh tế xã Phú Thiện, việc chuyển đổi phù hợp điều kiện từng vùng giúp hiệu quả sản xuất trên cùng diện tích tăng từ 2 - 3 lần, thậm chí có nơi nhiều hơn.
Tại xã Ia Rsai, năm 2026 địa phương chuyển đổi khoảng 264,9 ha cây trồng, đồng thời triển khai mô hình bưởi VietGAP tại buôn Gum Gôp với diện tích 3 ha. Anh Nguyễn Đình Khánh (buôn Chư Gu) chuyển diện tích mì, điều kém hiệu quả sang trồng thuốc lá và đầu tư tưới nhỏ giọt. Với 10 ha thuốc lá, năng suất đạt 4 - 5 tấn/ha, doanh thu khoảng 280 triệu đồng/ha, lợi nhuận khoảng 100 triệu đồng/vụ.
Trong khi đó, xã Ia Krêl tập trung tái canh, ghép cải tạo và đa dạng hóa cây trồng. Địa phương hiện có trên 5.000 ha cao su, hơn 4.000 ha cà phê, trên 2.700 ha điều và khoảng 400 ha sầu riêng; khoảng 30% diện tích điều đã già cỗi, năng suất thấp. Từ đầu năm 2026 đến nay, địa phương đã hỗ trợ chuyển đổi 33,5 ha điều già cỗi sang giống điều ghép năng suất cao, hơn 20 ha điều kém hiệu quả sang cà phê; đồng thời triển khai mô hình ca cao xen dưới tán điều và cây dược liệu liên kết với DN.
Theo ông Nguyễn Quốc Tư - Chủ tịch UBND xã Ia Krêl, cách bố trí nhiều tầng cây trồng mở thêm hướng sử dụng hiệu quả đất đai, giúp người dân có thêm nguồn thu và giảm rủi ro khi phụ thuộc vào một loại cây trồng.
Theo Phòng Kinh tế xã Ân Tường, năm 2026, địa phương xây dựng kế hoạch chuyển đổi 75 ha đất lúa sang cây trồng khác; đến nay đã thực hiện 77,5 ha, đạt 103% kế hoạch. Trong đó, chuyển sang trồng bắp 12,5 ha, mè 1,7 ha, rau 30,5 ha, cỏ chăn nuôi 27,5 ha và bưởi 5,3 ha. Cùng với chuyển đổi, người dân chủ động tìm hướng nâng giá trị trên diện tích sản xuất.
Tại thôn Phú Văn 2, xã Ân Tường, ông Nguyễn Quang chuyển diện tích keo kém hiệu quả sang trồng xen sầu riêng, bưởi theo hướng an toàn sinh học, ưu tiên phân chuồng và hạn chế hóa chất bảo vệ thực vật. Ông còn trồng cỏ nuôi bò để chủ động nguồn phân bón, từng bước hình thành mô hình sản xuất khép kín.
“Cách làm này đòi hỏi tính toán vốn đầu tư ban đầu kỹ, nhưng càng về sau chi phí đầu vào giảm đáng kể mà cây vẫn phát triển tốt” - ông Quang chia sẻ.
Những cách làm này cho thấy dư địa tăng trưởng của nông nghiệp không chỉ nằm ở mở rộng diện tích mà còn ở khả năng nâng giá trị trên chính những vùng đất đang sản xuất.
Chủ động nguồn nước cho sản xuất
Nếu đất đai là nguồn lực quan trọng thì nước là yếu tố quyết định khả năng mở rộng và ổn định sản xuất, nhất là khu vực phía Tây tỉnh.
Theo ông Ngô Vĩnh Khánh - Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi (Sở Nông nghiệp và Môi trường), dư địa nâng cao hiệu quả sản xuất nằm ở việc tăng tỷ lệ tưới chủ động, bảo đảm an ninh nguồn nước và hoàn thiện hệ thống dẫn nước đến các vùng sản xuất tập trung.
Hiện khu vực phía Tây tỉnh mới có 8,9% diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới chủ động, tương ứng 12,5% diện tích gieo trồng hằng năm; khoảng 85% diện tích vẫn phụ thuộc nước mưa và nước ngầm. Tổng thiếu hụt nguồn nước mặt ước khoảng 1,235 tỷ m³/năm, trong khi khả năng khai thác nước ngầm an toàn chỉ khoảng 403,8 triệu m³. “Dư địa lớn nhất là tăng diện tích được tưới chủ động, đồng thời phải bảo đảm an ninh nguồn nước và đưa nước đến đúng vùng sản xuất” - ông Khánh cho biết.
Không chỉ thiếu nguồn, hệ thống thủy lợi ở một số nơi còn chưa đồng bộ. Một số hồ chứa đã hoàn thành nhưng hệ thống kênh dẫn, kênh nội đồng chưa được đầu tư tương xứng, hạn chế hiệu quả khai thác công trình như Tầu Dầu 2, Ia Rtô, Plei Keo, Ia Mơr.
Thực tế này thể hiện rõ tại xã Ia Phí. Toàn xã có 4 công trình thủy lợi gồm Ia Naih, Ia Rưng II, Ia Sen và Ia Jing Nhông, phục vụ khoảng 302 ha. Phần lớn diện tích còn lại, người dân phải chủ động nguồn nước từ suối, giếng, ao, hồ; một số tuyến kênh xuống cấp, ảnh hưởng khả năng dẫn và phân phối nước.
Năm 2026, xã Ia Phí bố trí hơn 1,6 tỷ đồng sửa chữa công trình Ia Jing Nhông, gồm 2 tuyến kênh chính dài hơn 1.067 m và 2 tuyến kênh nhánh dài hơn 113 m, phục vụ khoảng 120 ha. Việc sửa chữa nhằm khắc phục hư hỏng, nâng khả năng dẫn nước đến cuối tuyến.
Theo ông Nguyễn Côn Sơn - Chủ tịch UBND xã Ia Phí, cùng với thủy lợi, cần đầu tư đồng bộ giao thông vùng sản xuất, ao hồ, công trình tích trữ nước và điện phục vụ bơm tưới, sơ chế, chế biến để giảm chi phí sản xuất, vận chuyển.
Giai đoạn 2021 - 2025, khu vực phía Tây được bố trí khoảng 2.484 tỷ đồng đầu tư thủy lợi, kiên cố hóa 93,9 km kênh mương; khu vực phía Đông bố trí khoảng 5.210 tỷ đồng sửa chữa, nâng cấp 50 hồ chứa và hệ thống kênh mương.
Toàn tỉnh hiện có 282 hồ chứa với tổng dung tích hơn 1,452 tỷ m³, 486 đập dâng, 272 trạm bơm và hơn 7.813 km kênh mương; trong đó 360/1.813 km kênh được kiên cố hóa, đạt 19,8%. Diện tích tưới thực tế khu vực phía Tây đạt 53.138 ha, phía Đông hơn 110 nghìn ha.
Diện tích áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt 78.065 ha, tương đương 10,15% diện tích cây trồng cạn; trong đó phía Tây 62.630 ha, phía Đông 15.435 ha.
Giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh đặt mục tiêu nâng diện tích canh tác được tưới chủ động toàn tỉnh lên gần 222 nghìn ha, riêng khu vực phía Tây hơn 94.000 ha. Đến năm 2030, ít nhất 30.000 ha cà phê, hồ tiêu áp dụng tưới nhỏ giọt hoặc phun mưa; khu vực phía Tây phấn đấu ít nhất 30% diện tích có tưới áp dụng phương pháp tiết kiệm nước.
Theo ông Khánh, ngành thủy lợi sẽ đẩy mạnh số hóa dữ liệu hồ chứa, đập dâng, trạm bơm, kênh mương và vùng tưới; từng bước ứng dụng quan trắc tự động, GIS, SCADA, viễn thám, dữ liệu lớn và AI trong dự báo, điều tiết nguồn nước. Đồng thời, tỉnh sẽ đầu tư đồng bộ công trình tạo nguồn với hệ thống kênh nội đồng, ưu tiên khai thác nước mặt và bảo vệ nguồn nước ngầm.
Tầm nhìn đến năm 2035, khu vực phía Tây dự kiến đầu tư mới 206 công trình, nâng cấp 92 công trình tại 6 tiểu vùng, đưa diện tích tưới chủ động lên khoảng 185.424 ha. Khi nguồn nước được chủ động, hạ tầng đồng bộ và phương thức tưới chuyển sang tiết kiệm, hiện đại, lợi thế về đất đai, khí hậu và cây trồng của Gia Lai sẽ có thêm điều kiện chuyển hóa thành giá trị, tạo sức bật cho nông nghiệp hàng hóa.
--------------------------
Kỳ 2: Chuẩn hóa vùng sản xuất