“Tấm lá chắn” của người Tây Nguyên

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

(GLO)- Một già làng từng nói rằng, muốn hiểu về một chàng trai Tây Nguyên, hãy quan sát họ múa khiên.

1. Khiên là một loại vũ khí để tự vệ, chiến đấu khá phổ biến ngày xưa của các dân tộc bản địa Trường Sơn-Tây Nguyên. Ngày nay, hình ảnh chiếc khiên còn lưu giữ trong các bảo tàng, nhà trưng bày, sưu tập tư nhân về văn hóa Tây Nguyên hay trong nhà rông các làng. “Tấm lá chắn” này trở thành đạo cụ không thể thiếu trong các đội cồng chiêng.

Nghệ nhân Ksor Hnao (làng Kép, phường Đống Đa, TP. Pleiku) cho biết: Từ xa xưa, chiếc khiên đã trở thành biểu tượng cho tinh thần bảo vệ buôn làng của các chàng trai dũng cảm. Không người đàn ông nào không có khiên, không làng nào lại thiếu khiên treo trên vách nhà rông. Chiếc khiên như một tấm lá chắn được hiểu theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. “Đàn ông thường mang khiên khi đi rẫy, vào rừng để lỡ gặp thú dữ dùng che chắn, bảo vệ mình. Trong các làng, có bao nhiêu thanh niên ngủ ở nhà rông sẽ có bấy nhiêu chiếc khiên treo ở đó. Đây vừa là vũ khí để tự vệ, vừa để trai làng tập luyện chiến đấu nếu có kẻ thù hoặc thú dữ đe dọa”-nghệ nhân Ksor Hnao nói.

Nghệ nhân Ksor Hnao giới thiệu văn hóa gắn với chiếc khiên trong đời sống của người bản địa Tây Nguyên. Ảnh: Hoàng Ngọc

Nghệ nhân Ksor Hnao giới thiệu văn hóa gắn với chiếc khiên trong đời sống của người bản địa Tây Nguyên. Ảnh: Hoàng Ngọc

Từ một loại vũ khí phổ biến trong xã hội xưa, người bản địa sáng tạo điệu múa khiên dựa trên tư thế chiến đấu của các chàng trai. Trong các cuộc trình diễn cồng chiêng, thường sẽ có các chàng trai khỏe mạnh đi đầu trong tư thế tay cầm khiên, tay cầm kiếm hoặc ngọn lao. Theo nghệ nhân Ksor Hnao, đó còn là hình ảnh biểu tượng của tinh thần sẵn sàng bảo vệ buôn làng và luôn được đề cao trong lối sống từ xa xưa cho tới ngày nay.

Trong nhiều hiện vật dân tộc học mà nghệ nhân Ksor Hnao sưu tầm có 2 chiếc khiên bằng gỗ mà ông rất quý, được chế tác cầu kỳ như những tác phẩm nghệ thuật. Chiếc khiên được làm bằng gỗ trắc khá nặng, thoạt nhìn tựa như chiếc chiêng có núm. Mặt trước khắc hoa văn, quanh núm khắc hình ngôi sao nhiều cánh và khảm da cáo. Mặt sau tấm khiên có thanh cầm chắc chắn. 2 chiếc khiên nổi bật giữa những đồ vật trong phòng trưng bày. “Đây là chiếc khiên gỗ có tuổi đời hàng trăm năm với kỹ thuật chế tác rất cầu kỳ, bền chắc với thời gian. Những người biết làm khiên hiện nay cũng không còn nhiều”-nghệ nhân Hnao cho biết.

2. Nghệ nhân Ayo (làng Piơm, thị trấn Đak Đoa) là một trong số ít người biết kỹ thuật chế tác khiên. Người Bahnar gọi khiên là khêl và thường làm khiên bằng gỗ cây alu. “Đây là loại cây mọc ở vùng đầm lầy, gỗ rất mềm, dẻo, nhẹ nhưng chắc chắn. Xưa kia, cây alu mọc dày đặc trên cánh đồng Kơ Dơ. Thân cây cao hàng chục mét, bộ rễ khổng lồ vươn dài, tạo thành hình thù kỳ dị lộ thiên, bên dưới tạo thành những hang hốc. Trẻ con trong làng thường chui vào bên trong những bộ rễ bắt cua, bắt cá. Tuổi thơ của chúng tôi gắn bó trên cánh đồng Kơ Dơ cùng với những rừng alu này”-ông Ayo cho biết.

Cũng theo nghệ nhân Ayo, thân cây alu đủ lớn được xẻ về làm khiên hoặc cán búa. Để làm được những chiếc khiên hình tròn có đường kính hơn 1 m, người già trong làng chọn những cây alu to lớn, xẻ thành tấm gỗ xéo, sau đó ghép thành hình tròn có chóp. Mặt trong khiên có tay cầm cân xứng với đỉnh chóp bên ngoài. Những chiếc “đinh” để ghép miếng gỗ được làm từ thân tre già. Sau khi hoàn thành, chiếc khiên rất bền chắc, sức bảo vệ, chống đỡ rất kỳ diệu. “Gỗ cây alu tuy mềm, nhẹ, nhưng săn chắc giúp cản đẩy mũi lao rất tốt, ngay cả kiếm sắc đâm cũng rất khó thủng”-nghệ nhân Ayo cho hay.

Sau ngày thống nhất đất nước, cây alu vẫn còn rất nhiều ở phía thấp trũng của cánh đồng Kơ Dơ. Nhưng sau đó, để có đất trồng lúa, người dân đã khai hoang mở rộng diện tích, cây alu dần vắng bóng trên cánh đồng. Nghệ nhân Ayo hoài niệm: “Tuy những chiếc khiên từ gỗ cây alu không còn nhưng các nghệ nhân vẫn đan những chiếc khiên từ tre, nứa, mặt khiên bọc vải thổ cẩm và sơn họa tiết trắng đỏ, đen biểu trưng cho mặt trời, đất và nước. Khiên là đạo cụ không thể thiếu trong các tiết mục văn nghệ dân gian”.

Nghệ nhân làng Piơm (thị trấn Đak Đoa) múa khiên trong lễ tái hiện đâm trâu mừng chiến thắng tại Ngày hội văn hóa các dân tộc ở Quảng trường Đại Đoàn Kết (TP. Pleiku). Ảnh: Hoàng Ngọc

Nghệ nhân làng Piơm (thị trấn Đak Đoa) múa khiên trong lễ tái hiện đâm trâu mừng chiến thắng tại Ngày hội văn hóa các dân tộc ở Quảng trường Đại Đoàn Kết (TP. Pleiku). Ảnh: Hoàng Ngọc

Nhiều lần cùng đội chiêng làng Piơm biểu diễn múa khiên ở các sự kiện văn hóa tại Hà Nội và trong tỉnh, nghệ nhân Ayo khẳng định: “Múa khiên không thể thiếu trong trình diễn cồng chiêng, đặc biệt là trong lễ đâm trâu hay các bài chiêng mừng chiến thắng. Điệu múa khiên thường có 2 hoặc 4 người, thể hiện tư thế dũng mãnh của các chàng trai. Lúc chống đỡ, khi tấn công tay cầm kiếm, tay cầm khiên phải vung lên đưa xuống nhịp nhàng. Khi biểu diễn hay chiến đấu ngoài đời thực với kẻ thù, nếu 1 trong 2 người bị gãy hoặc rớt kiếm, cả hai sẽ cùng đặt khiên xuống và vật nhau bằng tay để phân thắng thua. Đây là điệu múa giúp cho thế hệ trẻ hiểu ông bà mình đã chiến đấu với kẻ thù, với thú dữ để tự bảo vệ mình, bảo vệ buôn làng như thế nào”.

Trong sử thi Đăm Săn có nhiều đoạn mô tả những trận đánh nhau “long trời lở đất” giữa Đăm Săn-một người có tinh thần chính nghĩa và uy tín với cộng đồng và kẻ thù là tù trưởng Mtao Mxây mà vũ khí để hai bên chiến đấu chính là chiếc khiên. Sự yếu đuối của Mtao Mxây và sự khỏe mạnh của Đăm Săn thể hiện rất rõ qua hình ảnh chiếc khiên: Mtao Mxây “múa khiên như trò chơi, khiên kêu lạch xạch như quả mướp khô, chạy bước cao bước thấp, chạy hết từ bãi Tây sang bãi Đông, tự xem mình là tướng quen đánh trăm trận, quen xéo nát đất đai thiên hạ”. Còn lúc Đăm Săn múa thì: “Một lần xốc tới, chàng vượt qua đồi tranh. Một lần xốc tới nữa chàng vượt qua đồi lồ ô. Chạy vun vút qua phía Đông, vun vút qua phía Tây”. Càng lúc Đăm Săn múa khiên càng mạnh, càng nhanh, càng đẹp. “Chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc…”.

Theo thời gian, chiếc khiên đã góp phần làm nên sự độc đáo cho không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Nó còn thể hiện cốt cách, lối sống yêu chuộng tự do, nghĩa hiệp của các dân tộc Trường Sơn-Tây Nguyên.

Có thể bạn quan tâm

Dưới bóng nhà dài

Dưới bóng nhà dài

(GLO)- Ngày trước, nhiều cộng đồng các dân tộc thiểu số ở vùng Trường Sơn-Tây Nguyên có tập quán ở nhà dài. Dưới bóng nhà dài, cuộc sống của bà con diễn ra thật yên bình, thư thái.
Mở rộng không gian cho di sản

Mở rộng không gian cho di sản

(GLO)- Cuối tuần qua, chương trình “Cồng chiêng cuối tuần-Thưởng thức và trải nghiệm”, “Sắc màu văn hóa Gia Lai-Bảo tồn và phát triển” được mở rộng không gian trình diễn. Đây là hướng đi mới nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong bối cảnh hiện nay.

 Gia Lai phát huy giá trị của văn hóa lễ hội

Gia Lai phát huy giá trị của văn hóa lễ hội

(GLO)- Gia Lai hiện có 44 dân tộc cùng sinh sống nên có sự đa dạng, phong phú về các loại hình văn hóa lễ hội. Để góp phần phát triển kinh tế-xã hội, tỉnh luôn chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị của văn hóa lễ hội trong cộng đồng các dân tộc.
Đưa cồng chiêng cuối tuần về Ia Pa

Đưa cồng chiêng cuối tuần về Ia Pa

(GLO)- Tối 9-6, chương trình “Cồng chiêng cuối tuần-Thưởng thức và trải nghiệm” lần đầu tiên được tổ chức tại huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai. Mặc dù trời mưa nặng hạt nhưng không làm khó được các nghệ nhân với những tiết mục đặc sắc, hấp dẫn.
Những nghi lễ cần biết về Tết Đoan Ngọ

Những nghi lễ cần biết về Tết Đoan Ngọ

Theo quan niệm dân gian, ngày Tết Đoan Ngọ mang ý nghĩa phòng bệnh, giữ gìn sức khỏe và bảo vệ mùa vụ. Một trong những nét đặc trưng của ngày Tết Đoan Ngọ là việc thực hiện nghi thức cúng tổ tiên và thần linh. Ý nghĩa lớn nhất và sâu sắc nhất của Tết Đoan Ngọ là ngày “y dược toàn dân”.
Phục dựng lễ hội: Đòn bẩy phát triển du lịch cộng đồng

Phục dựng lễ hội: Đòn bẩy phát triển du lịch cộng đồng

(GLO)- 5 năm qua, hàng chục lễ hội truyền thống được phục dựng tại các địa phương trong tỉnh Gia Lai. Điều đó cho thấy hệ thống lễ hội của các dân tộc thiểu số vô cùng phong phú, đặc sắc. Đây cũng là tài nguyên vô giá để định hình các sản phẩm du lịch, nhất là loại hình du lịch cộng đồng.
Phụ nữ Đăk Pơ Pho bảo tồn nghề dệt thổ cẩm

Phụ nữ Đăk Pơ Pho bảo tồn nghề dệt thổ cẩm

(GLO)- Tiếng dệt vải bần bật, mạnh và dứt khoát xua tan cái im ắng quanh không gian ngôi nhà rông. Thanh âm của các khung dệt tạo nên giai điệu gần gũi và thân thuộc. Đó là một buổi sinh hoạt trong câu lạc bộ dệt thổ cẩm của phụ nữ xã Đăk Pơ Pho, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai.
Khi người Bahnar về thế giới Atâu

Khi người Bahnar về thế giới Atâu

(GLO)- Mây đen vần vũ, cây cối lặng như tờ báo trước một cơn mưa. Vừa đến đầu xã Ya Ma (huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai), tôi đã nghe tiếng cồng chiêng vang xa. Hỏi thăm một người dân trên đường thì biết đó là nhạc chiêng đưa tiễn người chết ở làng Tờ Nùng-Măng.
Bà Siu H'Phưl-Người đưa sắc màu thổ cẩm vươn xa

Bà Siu H'Phưl-Người đưa sắc màu thổ cẩm vươn xa

(GLO)- Gần 60 tuổi, bà Siu H'Phưl (làng Mrông Yố 1, xã Ia Ka, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai) vẫn miệt mài may các sản phẩm từ chất liệu thổ cẩm để bán ra thị trường. Với cách làm này, bà không chỉ mang lại thu nhập cho gia đình mà còn góp phần gìn giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc.

Hân hoan đón mừng lễ Phật đản

Hân hoan đón mừng lễ Phật đản

(GLO)- Cách đây hơn 2.500 năm, vào ngày rằm tháng tư, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời tại Ấn Độ. Suốt quá trình tu tập, hoằng pháp và độ sinh, Đức Phật đã để lại cho nhân loại một hệ thống tư tưởng giáo lý vô giá về trí tuệ, lòng từ bi, tinh thần bất bạo động, hòa hợp và phát triển.
Chiếc kang uống rượu của người Bahnar

Chiếc kang uống rượu của người Bahnar

(GLO)- Có nhiều yếu tố liên quan đến việc uống rượu cần của đồng bào Bahnar. Mỗi một yếu tố đều chứa đựng giá trị riêng, trong đó, chiếc kang uống rượu là vật nhằm đảm bảo sự công bằng giữa mọi người khi uống rượu.