Sự thật sau những tác phẩm để đời-Kỳ 4: Núi Đôi-sự thật đẹp như huyền thoại

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Chuyện tình lãng mạn và bi tráng có thật của cô du kích và anh bộ đội trong bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao đã làm lay động hàng triệu trái tim. Khi người lính trở về, cô gái đã hi sinh và hóa thành bất tử trong những dòng thơ bi tráng Núi Đôi...
Phần mộ liệt sĩ Bắc giữa vạt cỏ xanh bình yên - Ảnh: VŨ TUẤN
Chiều muộn, những cơn gió dịu và nắng thu rải vàng trên đồng cỏ. Cánh cổng nghĩa trang liệt sĩ Sóc Sơn (Hà Nội) không lúc nào đóng cửa. Đám trẻ hay vào đây đạp xe, nhảy dây, chơi chuyền...
Phần mộ liệt sĩ Nguyễn Thị Bắc êm đềm bên đồng đội, bên những vạt cỏ tranh đang dạt dào như sóng dưới làn gió thu.
Phần mộ chị Bắc cũng là ngôi mộ hiếm hoi trong nghĩa trang có ảnh chân dung trên bia. Nhìn chị vẫn như thủa đôi mươi "trẻ nhất làng" với khuôn mặt nhỏ nhắn, đôi mắt dịu hiền và mái tóc dày.
Ông Trần Văn Nhuận, em trai liệt sĩ Bắc, cắm những bông cúc vàng lên mộ, rồi đặt lại chiếc gương cho ngay ngắn. "Ngày xưa, tóc chị tôi đen dài lắm! Bố mẹ tôi từng bảo chị là người con gái đẹp nhất thôn Đoài".
Chuyện tình đẹp
Làng Xuân Đoài trước kia là thôn Đoài (thôn phía tây) của làng Xuân Dục. Sau này làng tách ra, người trong vùng quen gọi là thôn Xuân Đoài. Liệt sĩ Bắc chính là người con gái trong bài thơ Núi Đôi đã đi vào lòng người của tác giả Vũ Cao.
Lời thơ kể về một chuyện tình yêu lãng mạn và bi tráng của cô du kích và anh bộ đội Trịnh Khanh cùng quê.
Năm 1956, ông Vũ Cao có thời gian công tác ở sư đoàn 312, đóng quân tại huyện Sóc Sơn, bên cạnh núi Đôi. Tình cờ, ông được nghe người dân trong vùng kể về chuyện tình xúc động của cô du kích yêu người chiến sĩ, nhưng khi quê hương không còn bóng giặc, anh lính trở về thì người yêu của mình đã hi sinh rồi.
Ông Nhuận tâm sự thủa ấy làng Xuân Dục giáp ranh giữa vùng bị giặc chiếm và vùng tự do. Làng Xuân Đoài nằm bên trái con đường qua núi Đôi bị chính quyền thực dân lập "vùng trắng", bắt dân dỡ nhà, dọn về làng Lương Châu gần đó.
Giặc Pháp cũng xây hàng loạt lô cốt ở núi Đôi để kiểm soát cả đường sắt lẫn đường bộ. Liệt sĩ Bắc là chị cả trong gia đình có năm anh chị em mà ông Nhuận là con trai thứ ba. Ngày bé, bố mẹ gọi ông là Bắc để giấu tên chị hoạt động kháng chiến.
"Bố tôi bị giặc bắt lên đồn trên đỉnh núi Đôi. Chúng tra tấn, bố tôi chỉ khai con gái cả là "Gái", còn tôi là Bắc. Giặc nghi ngờ chị tôi theo cách mạng từ lâu rồi nhưng không đủ chứng cứ".
Sự thật, liệt sĩ Bắc đi kháng chiến, được cử học lớp y tá ở xã Bắc Sơn (huyện Sóc Sơn) rồi quen anh bộ đội Trịnh Khanh cùng quê. Tình yêu bùng cháy, họ ước hẹn sau khi chiến thắng trận Bắc Hồng (Đông Anh, Hà Nội) sẽ cưới nhau.
Gia đình ông Nhuận sau này mới biết trước trận đánh đó, chính trị viên đại đội Trần Quốc Tuấn đã viết thư tay thay cho công văn đồng ý để anh Khanh về làm đám cưới với chị Bắc. Trong trận đánh chống địch càn quét ở Bắc Hồng, người chính trị viên này đã hi sinh.
Liệt sĩ Nguyễn Thị Bắc là cô gái đẹp nhất làng - Ảnh VŨ TUẤN chụp lại
Giường cưới là ổ rơm
"Ngày cưới chị, bố tôi đi dân công mở đường ở Tây Bắc. Mẹ cho tôi vào thúng, gánh lên vùng tự do để dự cưới chị. Tôi nhớ "phòng hạnh phúc" của chị với anh Khanh không có giường mà chỉ là một ổ rơm. Cưới xong được hai hôm thì tôi theo mẹ và chị về quê, còn anh Khanh chuyển căn cứ" - ông rưng rưng nhớ lại.
Chị Bắc về quê được giao nhiệm vụ làm quân bưu và địch vận. Cô du kích có mái tóc dài đen bóng từng vận động được hai đồn trưởng mang cả súng về phe kháng chiến. Giặc nghi ngờ nhưng không đủ bằng chứng.
Đêm 21-3-1954, chị Bắc được giao nhiệm vụ đưa đoàn cán bộ ra vùng tự do để chuẩn bị trận đánh lớn. Qua núi Đôi, đến ngòi Đầm Sen thì họ gặp phục kích. Giặc bắt được chị Bắc. Vừa hô to, chị vừa chống trả để đồng đội phía sau kịp lánh. Giặc bắn một tràng tiểu liên vào ngực chị...
Đêm bi thương ấy, đồng đội đưa chị lên chôn dưới chân gò Cầu Cồn mà nay thuộc xã Minh Tân, Sóc Sơn. Sau này, chính những đồng đội ấy cũng trở thành anh em một nhà với liệt sĩ Bắc.
Ông Nguyễn Văn Hội về sau là bố vợ ông Nhuận. Những người cùng đi có cả cậu, chú, em họ của bà Nguyễn Thị Kim Hòe - vợ ông Nhuận.
Đến giờ, bà Hoè vẫn còn nhớ như in buổi sáng sau đêm chị Bắc hi sinh: "Quân Pháp bắt hết dân làng Lương Châu ra điểm danh. Nhiều người bị chúng bắt giải lên đồn. Dân làng thương chị Bắc lắm nhưng không ai dám khóc, cũng không khai gì về chị và đồng đội".
Hòa bình lập lại, anh Trịnh Khanh mới về được quê nhà. Bà Hòe nhớ người lính ấy không về nhà mà lên ngay gò Cầu Cồn để viếng mộ vợ.
Ở chiến trường, anh Khanh đã nhận được hai bức thư. Một bức thư của vợ kèm theo một chiếc đồng hồ và một chiếc khăn len kỷ vật. Một bức thư khác là của gia đình báo tin vợ anh đã hi sinh!
Tình yêu của người chiến sĩ với cô du kích nảy nở đúng thời gian chiến tranh khốc liệt. Sau các chiến dịch chống càn, mở rộng vùng địch hậu lại đến chiến dịch Biên giới rồi Điện Biên Phủ. Người lính vệ quốc nén nỗi đau của mình vào nòng súng. Anh đi hết chiến trường này đến chiến trường khác.
Hòa bình lập lại, anh trở về quê hương thì người yêu đã mãi mãi hòa xác thân vào lòng đất quê hương.
Sau 20 năm kể từ khi bài thơ Núi Đôi được viết, tác giả Vũ Cao mới gặp người chiến sĩ trong chuyện thơ của mình. Ông từng bộc bạch không hiểu sao lại có sự đồng cảm với người lính Trịnh Khanh đến vậy.
"Anh ngước nhìn lên hai dốc núi,
Hàng thông bờ có con đường quen.
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói.
Núi vẫn đôi mà anh mất em!".
Ông Nhuận run run chòm râu bạc: "Anh Khanh là anh rể cả của gia đình nhưng cũng là anh trai tôi. Hòa bình lập lại, chính mẹ tôi là người đã mai mối và hỏi vợ cho anh Khanh".
Từ con rể, anh Khanh trở thành anh cả trong gia đình người vợ đã mất. Mọi người tin rằng đó cũng là ước nguyện của hương hồn chị Bắc, chị vẫn mong anh thanh thản tâm hồn và gắn bó với gia đình mình...
Hàn Mặc Tử qua đời để lại bài thơ bất hủ Đây thôn Vĩ Dạ làm người đời sau phải đắm mê và đặt bao câu hỏi, đặc biệt là chuyện tình thi nhân và cô gái Huế. Sự thật thế nào?
"Bảy năm về trước, em mười bảy
Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng
Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa
Bữa thì em tới, bữa anh sang
Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
Em vẫn đùa anh: sao khéo thế
Núi chồng núi vợ đứng song đôi…".
(Trích đoạn bài thơ Núi Đôi)
Tác giả Vũ Cao (1922 - 2007) tên thật là Vũ Hữu Chỉnh. Độc giả biết đến ông là một tác giả với nhiều tác phẩm văn xuôi. Trước khi sáng tác bài thơ này, ông dự định viết truyện ngắn. Nhưng khi nghe chuyện thật, cảm xúc ông dâng trào thành thơ.
Khi sáng tác, ông chưa từng gặp người lính trong câu chuyện, cũng không biết cô du kích ở núi Đôi đã kết hôn với người lính. Đám cưới của họ diễn ra ở vùng tự do, gia đình lại phải giấu kín vì chiến tranh.

Gần 20 năm sau, ông gặp người lính Trịnh Khanh trong một buổi hội thảo. Thế nhưng tâm trạng của nhân vật thật và tâm trạng tác giả trong bài thơ đồng điệu đến mức phần lớn bạn đọc đều nhầm tác giả chính là người lính trong chuyện thơ.

Vũ Tuấn (TTO)

Có thể bạn quan tâm

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm.

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

null