Phú Quý xa mà gần

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Các bạn tôi ra đảo Phú Quý là cứ say mê chụp ảnh đá. Tôi thì cứ mân mê từng mõm, cảm giác như được chạm vào quá khứ Hỏa Diệm Sơn còn nóng hổi, bất kể thời gian nguội lạnh
Mấy năm gần đây, nhóm bạn làm báo của chúng tôi ở miền Trung vẫn thường hẹn nhau tranh thủ khám phá những đảo xa trên mọi miền đất nước. Rồi cũng không hiểu từ lúc nào, sổ tay của tôi ngày một đầy hơn những trang ghi chép về đảo Phú Quý. Và rồi tôi hiểu chính hòn đảo này đã níu kéo bước chân tôi không chỉ một lần, mà nhiều lần, mỗi lần đến là mỗi lần khám phá ra những điều thú vị.
Ân tứ của thiên nhiên
Nhớ lần đầu xuống đảo, loanh quanh một hồi tôi vẫn không hết ngạc nhiên trước màu đất đỏ bazan tươi thắm giữa trùng khơi biển xanh sóng vỗ, cát trắng, hòa sắc tươi rói trong bức tranh hùng vĩ và sống động của Hóa Công. Thấy tôi thích thú, anh bạn công tác ở huyện đảo là Đỗ Châu Thọ bật mí: "Xưa đây là núi lửa nên mới có đất đỏ đặc trưng. Nhưng chưa hết đâu, cứ đi tiếp sẽ biết".
Thì ra đây như là ân tứ của thiên nhiên ban tặng con người. Phú Quý từng là đảo núi lửa, là nơi sau cùng núi lửa trào phun trên đất nước Việt Nam (năm 1923). Sự kiện này được các nhà hàng hải và khoa học phương Tây ghi nhận. Trong các hòn đảo nhỏ của quần đảo Phú Quý, có một đảo mang tên Hòn Tro, chính là nơi thoát thai núi lửa, cất giấu nhiều bí ẩn vào lòng đại dương xanh thẳm. Rồi tôi cũng từ đó mà biết trong hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ của Việt Nam, chỉ có 2 địa chỉ núi lửa lưu dấu, đó là Lý Sơn (Quảng Ngãi) và Phú Quý.
Tôi theo chân Thọ đi bộ khắp đảo suốt mấy ngày trời để thỏa lòng hưởng thụ những gì của thiên nhiên hoang sơ và kỳ thú. Ngoài màu đất đỏ tươi ngỡ như núi lửa vừa phun thì còn đá nữa, cũng mách bảo nhiều sự lạ khiến tôi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.
Nhớ một đêm trò chuyện về đất và đá nơi này, lão ngư Trần Quang Đắc nói một câu ngắn gọn: "Anh cứ nhìn kỹ đất và nhất là đá ở đây để hiểu rõ hơn về đảo Phú Quý".
Đúng là đảo có vô vàn khối đá lớn nhỏ trơ gan cùng năm tháng và đều có dạng xoáy trôn ốc, cứ như là trò tinh nghịch tạo hóa. Không! Đấy là những kiệt tác điêu khắc muôn hình vạn trạng mới đúng. Nắng, mưa, bão tố, thời gian đã kỳ công chạm khắc vào muôn vàn khối đá, tạo nên một công viên địa chất hiếm có. Thảo nào các bạn tôi ra Phú Quý là cứ say mê chụp ảnh đá. Tôi thì cứ mân mê từng mõm, cảm giác như được chạm vào quá khứ Hỏa Diệm Sơn còn nóng hổi, bất kể thời gian nguội lạnh.

Tàu thuyền tấp nập quanh đảo Phú Quý
Tàu thuyền tấp nập quanh đảo Phú Quý

Một chuyến tàu mang hàng hóa từ đất liền ra đảo Phú Quý
Một chuyến tàu mang hàng hóa từ đất liền ra đảo Phú Quý
Giàu chất truyền kỳ
Rồi khi nghe người dân địa phương trò chuyện, tôi ngẩn tò te. Đã từng nghe tiếng Việt cổ ở đất Hà Tây (cũ), giọng biển Cảnh Dương, Lý Hòa (Quảng Bình), rồi Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa... nhưng giọng biển Phú Quý thì đúng là có một không hai.
Nhớ trên chuyến tàu ra đảo lần đầu, bạn tôi nói "tiếng dân Phú Quý nói cũng là đặc sản đó nghen". Tưởng anh đùa, ra đến đảo tôi mới biết là chuyện thực 100%.
Thật khó mô tả chất giọng của người dân Phú Quý. Không phải là ngữ điệu dân biển miền Nam hay miền Bắc thì hẵn rồi, nhưng ngay cả với giọng miền Trung thì cũng không giống một nơi nào cụ thể. Nghe thoáng như có giọng Quảng Ngãi, có khi là giọng Hội An (Quảng Nam), lại cả một chút giọng Cảnh Dương (Quảng Bình), rốt cuộc vẫn không lẫn vào đâu được và cũng không dễ gì hiểu.
Tất nhiên là tôi phải cậy đến người dân địa phương như Đỗ Châu Thọ để phiên dịch những biến âm không dễ cắt nghĩa. Ví như trên đảo, nổi tiếng sau Bàn Tranh Công Chúa và thầy Sài Nại là ông chánh tổng tên Bùi Quang Diệu, có công dám kiện cả thực dân Pháp đòi công lý, được dân tôn thờ và họ đọc tên ông nghe như là Deo - ông Tổng Deo, nghe rất thú vị.
Lạ nữa là Phú Quý đã hình thành lâu đời với 3 xã, 9 làng nên còn gọi là đảo Chín Làng và giọng nói của 9 làng này cũng khác nhau, dù rất hiểu nhau. Tôi hỏi thì cụ Nguyễn Lãn, nguyên là thủ từ đền thờ Bàn Tranh Công Chúa trên đảo. Cụ trả lời: "Giọng nói các làng khác nhau vì họ đến từ những địa phương khác nhau, thậm chí cách xa nhau nên con cháu nói theo giọng của cha ông, dù có pha loãng nhưng vẫn giữ phần nào gốc rễ". Nhưng lạ là qua bao đời chung sống giữa trùng khơi mà bản sắc giọng nói các làng vẫn không pha lẫn, không tạo nên một giọng nói chung của hòn đảo giàu chất truyền kỳ.
Trông một đêm vui Xuân trên đảo Phú Quý, một đồng nghiệp ở đài tiếp phát truyền thanh - truyền hình trên đảo tếu táo: "Nhân nói chuyện chất giọng đảo Phú Quý, tôi kể anh nghe. Huyện Phú Quý thuộc tỉnh Bình Thuận thì ai cũng biết. Nhưng có lần, đài tỉnh về Phú Quý thực hiện một phóng sự, đến các đoạn phỏng vấn người dân địa phương thì phải thêm phụ đề trên màn hình, nếu không thì đến cả khán giả tỉnh nhà cũng... chịu".
Tôi ồ lên. Thú vị quá chừng! 
Hội tụ nhiều luồng dân di cư
Phú Quý (còn gọi là Cù lao Thu hay Cù lao Khoai Xứ, là một huyện đảo xa của tỉnh Bình Thuận) có diện tích chỉ 16 km², cách TP Phan Thiết 120 km về hướng Đông Nam. Hiện đảo chia làm 3 xã: Long Hải, Ngũ Phụng, Tam Thanh.
Theo tư liệu lịch sử của địa phương này, tuy là một hòn đảo nằm biệt lập giữa trùng dương nhưng dấu tích phát hiện được cho thấy đảo đã được khai phá tạo nên cuộc sống ở đảo từ rất sớm. Trong quá trình khai thác đá quánh, nhân dân tìm thấy những mộ vò lớn có chôn theo một số công cụ lao động như rìu, bôn và cả những chiếc vòng đeo tay bằng đá với kỹ thuật chế tác rất tinh xảo. Điều này phù hợp với những giai thoại lưu truyền rằng trước khi có sự khai phá thiên nhiên của những con người từ lục địa, ở đây đã có một giống người sinh sống bằng nghề hái lượm và bắt cá ven biển.
Trải qua những biến thiên của lịch sử, Phú Quý hội tụ nhiều luồng dân di cư từ lục địa ra với nhiều thành phần dân tộc khác nhau. Trong đó, người Kinh đóng vai trò chủ thể. Khi bắt đầu phát triển mạnh kỹ thuật đóng thuyền buồm với những chiếc thuyền ra được khơi xa thì cũng là lúc có nhiều người từ lục địa đặt chân lên đảo. Trong một thời gian dài, dân cư ở đây sống trong điều kiện khép kín tự cung tự cấp với những hoạt động kinh tế như trồng trọt, đánh bắt hải sản, một số ngành nghề thủ công như dệt vải, đan võng, ép dầu... Trong đó, ngư nghiệp đóng vai trò chủ đạo.
B.T.C
Bài và ảnh: Phạm Xuân Dũng (NLĐO)

Có thể bạn quan tâm

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

null