Nụ cười trên những xe lăn

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Biết bao nhiêu đồng đội sau cuộc chiến đã phải neo phần đời còn lại trên xe lăn. Với thương binh đặc biệt nặng, biết bao lần phải cưa, xẻ rồi lại xẻ, cưa, đau không tưởng tượng nổi.
Tôi có hơn 4 năm ở chiến trường Campuchia (chiến trường K). Với tất cả những người lính khi đó, kỹ năng phát hiện mìn và gỡ mìn được xem là sống còn. Nhưng dù giỏi phát hiện, gỡ mìn đến thế nào thì chuyện đạp mìn, vướng mìn gần như khó tránh khỏi.
Chiến đấu để lấy lại sự sống
Hôm vừa rồi, tiễn đồng đội Nguyễn Văn Thạnh (thương binh 1/4, 95%, tức chỉ còn 5% sức khỏe) đến nơi an nghỉ cuối cùng, hình ảnh cảm động nhất là khi đồng đội cũ khiêng chiếc xe lăn đưa xuống mộ. Mọi người rơi nước mắt. Đồng đội tôi và gia đình cứ nghĩ Thạnh mất hai chân, ngồi xe lăn, làm việc trên xe lăn suốt từ năm 1980 đến nay, giờ bạn ấy đi về bên kia thế giới cũng cần có chiếc xe lăn.

Hai thương binh Nguyễn Văn Thạnh (bìa trái) và Trần Thanh Cảnh
Hai thương binh Nguyễn Văn Thạnh (bìa trái) và Trần Thanh Cảnh
Bức ảnh ấy đăng lên mạng xã hội, một người xem đã ghi cảm xúc: "Có lẽ không nên chôn theo chiếc xe lăn, vì một người như đồng đội ấy, ở thiên đường xứng đáng được Thượng đế ban tặng lại đôi chân diệu kỳ".
Có thể vậy. Một thương binh như bạn Thạnh, hai chân bị cắt cụt gần tới háng, mà phấn đấu trở thành một doanh nhân thành đạt, sống chí tình với đồng đội, nếu có phép mầu nào đó thì xin có lại cho Thạnh đôi chân bạn từng mơ ước.

Ba thương binh 1/4, hàng đầu từ trái qua: Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Văn Thạnh và Lê Khác
Ba thương binh 1/4, hàng đầu từ trái qua: Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Văn Thạnh và Lê Khác
Một đồng đội nữa của tôi là Tạ Ngọc Châu (quê Tư Nghĩa, Quảng Ngãi) cũng mất hai chân vì mìn nhưng may mắn hơn Thạnh vì không phải cắt cụt tới háng nên vẫn dùng được nạng. Châu ít ám ảnh về cuộc chiến. Điều Châu quan tâm nhất là kiếm tiền nuôi con ăn học. Lần ghé nhà bạn ở Tư Nghĩa, hình ảnh đập vào mắt tôi là bạn bỏ nạng, "đi" bằng hai tay móc vào hai cái đòn nhỏ, di chuyển thật lẹ để chăm sóc đàn heo - nguồn sống của gia đình.

Hai thương binh Nguyễn Văn Thạnh (bìa trái) và Nguyễn Văn Hùng
Hai thương binh Nguyễn Văn Thạnh (bìa trái) và Nguyễn Văn Hùng
Thật diệu kỳ, Châu nuôi mấy đứa con đều thành đạt. Hôm đám cưới con ở TP HCM, Châu vận bộ veston đẹp lung linh. Nhìn bạn ấy hạnh phúc, nước mắt tôi cứ tự nhiên lăn dài.
Còn hôm đám cưới con gái Thạnh, tôi đề nghị bạn ấy cố gắng mang cặp chân giả, chơi bộ đồ veston cho đẹp nhưng Thạnh bảo: "Có sao chơi vậy, khiêng giúp tao với cả xe lăn lên sân khấu"! Hình ảnh đó cũng đẹp diệu kỳ.
Nhiều lắm, biết bao nhiêu đồng đội tôi sau cuộc chiến đã phải sống cả đời trên xe lăn. Ngoài Thạnh, Châu còn là Lê Khác (thương binh 85%), Nguyễn Văn Hùng (thương binh 90%)... đều phải neo phần đời còn lại trên những chiếc xe lăn. Xót xa làm sao.
Với những thương binh đặc biệt nặng, để sống được, họ đã biết bao lần cưa, xẻ rồi lại xẻ, cưa, đau không thể tưởng tượng nổi, có lúc muốn chết đi cho nhẹ thân. Bạn Thạnh từng tâm sự, hồi điều trị ở Bệnh viện Mặt trận 479 (Siem Reap - Campuchia), vết thương hành hạ dữ dội, bạn ấy muốn chết và vạch ra kế hoạch chết hẳn hoi. Thương binh thường được y tá cấp cho thuốc ngủ, vì quá đau không ngủ được nên Thạnh để dành được vài chục viên, đủ để chết.
Đồng đội đưa chiếc xe lăn xuống mộ hôm tiễn thương binh Nguyễn Văn Thạnh về nơi an nghỉ cuối cùng
Đồng đội đưa chiếc xe lăn xuống mộ hôm tiễn thương binh Nguyễn Văn Thạnh về nơi an nghỉ cuối cùng
Nhưng số bạn ấy còn sống và phải sống khi cô y tá phát hiện ra. Cô y tá vừa khóc vừa nói với Thạnh: "Anh à, còn 1% cũng phải chiến đấu để lấy lại sự sống. Nếu có chết, về đất nước mình mà chết anh ơi". Gan lì như Thạnh, thế mà lúc ấy những giọt nước mắt cũng tự lăn ra.
Hai điều đặc biệt
Không thể có số liệu thống kê về hậu quả của mìn trong cuộc chiến tranh ấy, nhưng ở Trung đoàn 812 (Sư đoàn 309), trong hơn 10 năm chiến đấu trên chiến trường K, có rất nhiều lần bổ sung quân. Thường mỗi năm vài đợt, để bù số chiến sĩ hy sinh, đặc biệt là số bị thương do mìn.
Chiến trường K có hai điều đặc biệt. Một, đó là cuộc chiến tranh không có tù binh của phía Pol Pot. Vì hễ bắt được tù binh của ta, trước sau gì Pol Pot cũng giết. Đó cũng là lý do bộ đội ta luôn thủ một quả lựu đạn, như lời nguyền bất di bất dịch, để nếu bị Pol Pot bắt sống thì tự xử nhanh gọn. Trong khi đó, phía ta bắt được hàng trăm ngàn tù binh và tất cả được đối xử tử tế, trả về nguyên quán sinh sống. Hai, đây là cuộc chiến tranh mìn, đủ các loại mìn hiện đại nhất, ngày càng hiện đại, sức công phá càng tàn ác.
Hồi đơn vị tôi bảo vệ biên giới ở Đắk Lắk (1977-1978), khi đó chỉ có mìn K58 do Trung Quốc sản xuất. Đây là loại mìn sát thương bằng uy lực của 4 lạng thuốc nổ bên trong mà Trung Quốc "nhái" theo mẫu của Liên Xô nhưng K58 màu xanh, còn mẫu của Liên Xô màu đen.
Năm 1979, Sư đoàn 309 của chúng tôi chuyển địa bàn qua Battambang, bắt đầu xuất hiện mìn KP2, loại nhảy nổ, có nghĩa là khi vướng phải, quả mìn bật lò xo nhảy lên cao khoảng 80 cm. Với 2 lạng thuốc nổ và mảnh vụn sát thương, ai vướng phải quả này mất chân là chuyện phải xảy ra.
Mục đích của loại mìn KP2 là loại đối phương khỏi vòng chiến đấu. Tháng 3-1979, Trung đoàn 812 tiếp quản Pailin (một thị trấn sát biên giới Campuchia - Thái Lan), lúc đó đang do một tiểu đoàn Bộ đội Biên phòng đứng chân. Ngay trong ngày đầu tiên, tiểu đoàn đã dính nhiều quả KP2 nên có bị thương, hy sinh.
Pailin là một thị trấn chiến lược, có những rừng cà phê ngút ngàn, có mỏ đá quý được khai thác hơn 1 thế kỷ qua, với những viên sapphire xanh tuyệt đẹp. Nghe nói vào đầu thế kỷ thứ XX, 90% lượng sapphire xanh trên toàn cầu có nguồn gốc từ mỏ Pailin.
Chỉ chạm là nổ
Phía Tây Pailin là những dãy núi chiến lược mà bằng mọi giá Trung đoàn 812 phải chiếm để xây dựng tuyến chốt phòng thủ. Muốn thế, phải vượt qua một bãi mìn hỗn hợp dưới chân núi.
Sau KP2 là mìn đè nổ 652A, chỉ chứa khoảng 1 lạng thuốc nổ nhưng sát thương rất uy lực. Và cũng gần như lập tức mìn 652B ra đời, thử nghiệm ngay ở chiến trường Pailin. Đây là loại mìn chạm nổ, không thể gỡ được, sử dụng pin vi mạch, chỉ cần chạm là nổ, rất nhạy.
Đó chỉ là các loại mìn chống bộ binh, còn chống tăng thì loại cổ điển đạp nổ được thay bằng TM46 với 8 kg thuốc nổ. Hãy tưởng tượng sức công phá của 8 kg thuốc nổ TNT. Kể chi tiết những loại mìn như vậy mới thấy được tính chất của cuộc chiến tranh mìn.
Có lần, chở tử sĩ về chôn tạm ở sân bay Battambang, ghé thăm đồng đội nằm điều trị ở Đội Điều trị 7, thấy gần như tất cả anh em đều cụt chân. Có những buổi sáng thương binh ngồi phơi nắng, tự gõ vào ống chân của mình để bắt giòi. Những con giòi trắng, giòi đen sinh sôi nảy nở trong ống chân đang hoại tử, rơi ra, trông rất sợ!
Bạn Nguyễn Văn Thạnh khi bị mìn chỉ mất hai bàn chân, nhưng quá trình điều trị dài ngày thiếu kháng sinh nên vết thương hoại tử, phải tháo khớp gối và cắt đến tận nửa đùi trên. Chiến trường mà.
Trở lại chiến trường xưa
Mấy năm trước, trở lại chiến trường xưa, ghé Siem Reap, thấy một ban nhạc gồm những người dân K là nạn nhân của bom mìn, lập ra để ca hát kiếm sống.
Đến Pailin, những nông trường cà phê không còn nữa mà thành những rừng mì (sắn) ngút ngàn. Trên những con đường mới làm rất tốt, thấp thoáng là những người nông dân chống nạng. Họ cũng là những nạn nhân của mìn. Ghé bãi mìn xưa, nhà cửa đã mọc lên nhưng thỉnh thoảng vẫn thấy những tấm bảng: "Khu vực nguy hiểm - có mìn".
Mìn đã để lại những hậu quả, gánh nặng cho xã hội không thể tưởng tượng được. Đó là lý do Công ước về cấm sử dụng, tàng trữ, sản xuất và chuyển giao các loại mìn sát thương cá nhân (hiệu lực 1-3-1999) phải ra đời, tất nhiên là các nước xuất khẩu vũ khí đâu có chịu ký (?). 
"Họ đã sống, chiến đấu vì đức hạnh, vì nhân phẩm con người, vì để cứu rỗi một dân tộc bên bờ diệt chủng mà lịch sử sẽ không bao giờ quên. Thời gian trôi qua, họ sẽ trở thành những người lính già trên xe lăn nhưng không bao giờ “chết”.
Bài và ảnh: Lưu Nhi Dũ (NLĐO)

Có thể bạn quan tâm

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

(GLO)- “Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng”.

null