Nhớ thương đồng đội

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Trở về với đời thường, dù trải qua nhiều công việc, chức vụ khác nhau, nhưng người cựu tù Côn Đảo Hai Thiện vẫn canh cánh trong lòng về sự hy sinh mất mát của đồng chí, đồng đội. Ông tự thu thập tư liệu, thông tin rồi cất công đi tìm hài cốt chiến hữu, bạn bè. 
Ngày thoát ly gia đình, cha mẹ ông Hai đã căn dặn làm việc gì phải có trách nhiệm, làm cho trót và sống thì phải nghĩa tình. Chính vì lời dạy đó, hơn 40 năm qua, ông Hai Thiện (Phạm Đình Toàn, 79 tuổi, ngụ đường Tôn Thất Thuyết, phường 3, quận 4) đã âm thầm làm bia tưởng niệm, đám giỗ cho các đồng đội đã anh dũng hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân. Ngoài việc xây nhà cho đồng đội, chăm lo đám giỗ cho Mẹ Việt Nam Anh hùng…, mới đây trong khi dịch Covid-19 hoành hành ở nước ta, ông Hai Thiện đã lấy tiền tiết kiệm để giúp đỡ những phận nghèo ở địa phương.

Ông Hai Thiện trước tấm bia ghi danh các đồng đội đã hy sinh
Ông Hai Thiện trước tấm bia ghi danh các đồng đội đã hy sinh
Việt cộng đông lắm!
Học “hết chữ” ở quê nhà (làng Dùi Chiêng, xã Quế Phước, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam - nay là xã Phước Ninh, huyện Nông Sơn), ông Hai Thiện về Sài Gòn để tiếp tục việc học. Thực chất của chuyến đi này là tìm liên lạc với vùng kháng chiến. Năm 1963, ngay tại buổi hội thảo về “Thanh niên, học sinh trước thời cuộc”, cậu học sinh đã được các cô, chú có cảm tình với cách mạng lưu tâm. Trước hàng trăm sinh viên và ngay tại “thủ đô” của chính quyền Sài Gòn, ông Hai Thiện dõng dạc thuyết trình về Chủ tịch Hồ Chí Minh và miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Kể lại chuyện đó, ông Hai Thiện cười cười: “Lúc đó, phong trào đấu tranh phản chiến, chống chính quyền Sài Gòn diễn ra ở khắp các tỉnh, thành miền Nam. Các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia biểu tình. Thật ra thời điểm đó, tôi vẫn chưa biết Bác Hồ, nhưng lập luận của tôi đã khiến cho hội thảo sôi động và người nghe bất ngờ. Với chủ đề chống chiến tranh, tôi phát biểu là tại sao chưa bao giờ nghe ở miền Bắc có biểu tình và ông Hồ Chí Minh đã lãnh đạo như thế nào mà người dân ở miền Bắc sống yên ổn như vậy?”.
Ông Hai Thiện được các anh em đưa vào tổ chức, tiếp tục tham gia phong trào của học sinh - sinh viên và giữ chức vụ Chủ tịch lực lượng chống chiến tranh, đòi hòa bình, Ủy viên Ban chấp hành Tổng đoàn học sinh, sinh viên. Đến năm 1965, do phong trào bị lộ, ông Hai Thiện được điều vào chiến khu Phú An, tỉnh Bình Dương.
Cuối năm 1965, ông được phân công trong Ban cán sự Đoàn phân khu 3, Khu đoàn Sài Gòn - Gia Định. Thời gian này, ông Hai Thiện xây dựng lực lượng. Cuối năm 1967, lực lượng vũ trang tuyên truyền Phân khu đoàn phân khu 3 được thành lập, lấy tên là Đội vũ trang tuyên truyền Trung Dũng, do đồng chí Ba Tâm (Cao Văn Lệnh là Đội trưởng).
Trong thời điểm cận Tết Mậu Thân, ông Hai Thiện được tổ chức phân công giữ chức vụ Đội phó Đội vũ trang tuyên truyền Phân khu 3, phụ trách các quận 2, 4, 8, Nam Bình Chánh, Nhà Bè. Ông cùng các đồng đội đã tổ chức nhiều buổi tuyên truyền vũ trang tại hẻm Hãng Phân, hẻm Hiệp Thành… Sự linh động, sáng tạo của ông Hai Thiện và đồng đội trong tuyên truyền vũ trang đã nhiều lần làm cho chính quyền Sài Gòn hoang mang, thất điên, bát đảo.
Trong một lần tổ chức phát truyền đơn với nội dung tuyên truyền thắng lợi mùa khô năm 1966-1967 và treo cờ giải phóng ở điểm chiếu TV công cộng đầu lô F, cư xá Vĩnh Hội, cảnh sát ngụy hay tin kéo đến. Nhờ sự chở che của người dân và cấp báo kịp thời của đồng đội, ông Hai Thiện cùng anh em ung dung đi ra và không quên báo cho cảnh sát ngụy rằng: Việt cộng trong đó đông lắm!
Anh dũng trong lòng địch
Trước khi diễn ra trận đánh Tết Mậu Thân, ông Hai Thiện được bố trí về đơn vị Đoàn khởi nghĩa quận 4 và chỉ định là Bí thư Chi bộ phường Khánh Hội. Nhiệm vụ lúc bấy giờ của ông là tiếp xúc một số cơ sở hoạt động trong lòng địch để bố trí chỗ ăn, ở cho một số cán bộ chuẩn bị lực lượng vận động quần chúng nổi dậy. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó mà lực lượng vũ trang quận 4 chưa nhận được lệnh tấn công. Trong diễn biến như vậy, một cuộc chạm trán giữa ta và địch ở khu vực Sở Rác đã xảy ra.
Ông Hai Thiện bồi hồi kể lại: “Lúc đó, tôi đang trú ngụ ở cư xá Vĩnh Hội. Ngày hôm sau, qua nghe ngóng tình hình thì được biết, đó là cánh quân của quận 2 (nay là quận 1) do đồng chí Cao Văn Lệnh (tức Ba Tâm, Thường vụ Quận ủy quận 2) chỉ huy được lệnh qua quận 4 để đón một đơn vị bộ đội từ bên kia bờ kênh Tẻ, huyện Nhà Bè. Dựa vào sức mạnh của quần chúng, sự che chở của người dân, các anh kiên cường chiến đấu, gây cho địch nhiều tổn thất. Rạng sáng mồng 5 Tết Mậu Thân, để bảo toàn lực lượng, cấp trên đã chỉ đạo rút quân. Một số cán bộ đã tình nguyện ở lại để đánh chặn đường. Các anh Ba Tâm, Mai Lợi Trinh (Phó Bí thư Quận ủy quận 2), Lê Minh Chánh, Nguyễn Văn Long đã anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu không cân sức đó. Riêng tôi, vài ngày sau cũng bị địch bắt tại đường Hoàng Diệu”.
Cũng như bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ khác bị địch bắt bớ, tù đày, ông Hai Thiện chịu nhiều đòn roi khốc liệt. Hơn nửa năm trời, trải qua các trại giam bót Bà Hòa, Tổng nha cảnh sát, Chí Hòa…, nhưng tấm lòng kiên trung với Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự nghiệp giải phóng dân tộc, ông Hai Thiện đã cắn răng chịu đựng, không khai. Trước khi ra tòa, ông Hai Thiện cùng đồng đội lại tiếp tục đấu tranh đòi yêu sách, chính sách. Chính quyền Sài Gòn đày ông ra Côn Đảo với bản án 8 năm tù khổ sai vì tội phá rối trật tự trị an.
Đồng đội ơi!
Trở về đời thường, dù trải qua công việc, chức vụ gì, ông vẫn canh cánh, nặng lòng với sự hy sinh anh dũng của đồng chí, đồng đội. Ngay nơi xảy ra trận đánh oanh liệt ở quận 4 vào ngày mùng 5 Tết Mậu Thân, ông đã vận động kinh phí và đề xuất với chính quyền địa phương xây dựng bia tưởng niệm.
Ông Hai Thiện cho biết: “Chính nhờ bia tưởng niệm đó, chúng tôi đã tìm được gia đình của anh Ba Tâm và đồng đội. Qua chắt lọc thông tin, chúng tôi và gia đình đã tìm được hài cốt của các anh. Mừng vui lắm!”. Kể từ năm 1976, cứ đúng ngày mùng 5 Tết, tôi tự nguyện làm đám giỗ cho các anh và đồng chí, đồng đội đã hy sinh trong trận đánh Mậu Thân tại nhà của mình”. Các ban, ngành, đoàn thể ở phường 3, ở quận 4 đã đến thắp nén hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Việc làm nghĩa tình đã lan tỏa rộng khắp và mới đây Đoàn thanh niên quận 4 đã đề nghị chung tay.
Ông Nguyễn Văn Trai, cựu tù Côn Đảo, Tổ trưởng Tổ liên lạc cựu tù phường 4 quận 4, cho biết: “Kiên trung với cách mạng là thế, dũng cảm trước quân thù là vậy, nhưng ông Hai Thiện lại rất nhạy cảm với nỗi khổ của đồng chí, đồng đội. Ngoài việc tổ chức đám giỗ cho anh em, trong những ngày lễ tết, ông còn vận động, trích kinh phí thăm hỏi, tặng quà cho các cựu tù chính trị, viếng thăm các đồng chí cựu tù đã mất, hỗ trợ cán bộ ở địa phương gặp khó khăn trong cuộc sống. Dù tuổi cao, sức yếu, nhưng cứ biết đồng chí, đồng đội gặp khó khăn là ông đến tận nơi để tìm cách hỗ trợ, giúp đỡ. Trong đại dịch Covid-19 vừa qua, ông đã dành tất cả tiền lương hưu, tiền tiết kiệm để hỗ trợ đồng chí, đồng đội, tặng hàng trăm phần quà cho các gia đình gặp khó khăn”.
ĐOÀN HIỆP (SGGPO)

Có thể bạn quan tâm

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

null