Người cần mẫn phục dựng một biểu tượng độc đáo của xứ Quảng

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
"Tôi làm cái nhỏ nhất cũng mất gần nửa tháng mới xong. Vậy nên có người mua thì có thu nhập, mà không có người mua thì để ngắm cũng vui. Mục đích chính khi tôi làm mô hình bờ xe nước thu nhỏ này là muốn lưu giữ lại hình ảnh một thời của bờ xe nước trên sông Trà, chứ không phải vì kinh tế", ông Quýt cho biết.
Bờ xe nước sông Trà từng là những công trình cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi trong những năm giữa thế kỷ XX. Nhưng cách đây gần 30 năm, bờ xe nước đã bị thay thế bằng những công trình thủy lợi hiện đại hơn. Dù vậy, biểu tượng độc đáo của người dân xứ Quảng vẫn được ông Mai Văn Quýt (73 tuổi, ở thôn Thống Nhất, xã Tịnh Ấn Tây, TP Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi) sống bên bờ sông Trà cần mẫn tái hiện.
Ngày ngày, ông Quýt lặng lẽ phục dựng lại mô hình bờ xe nước sông Trà.
Sinh ra và lớn lên bên bờ sông Trà nên trong ký ức của ông Quýt, bờ xe nước quen thuộc như hơi thở. Ngày đó, cứ đêm đêm, từ đầu đến cuối làng, người ta lại nghe âm thanh ầm ì, lắc cắc, rào rạo... của những bờ xe nước, làm xốn xang cả một vùng quê.
"Gần 30 năm qua, sông Trà đã có hệ thống kênh mương đưa nước về tận ruộng đồng, tôi cũng như mọi người ai cũng vui. Tuy nhiên, vắng bờ xe mà nhiều đời từng gắn bó thì cũng tiếc và nhớ những âm thanh ầm ì, rào rạo của bờ xe nước", ông Quýt chia sẻ.
Tuổi thơ của ông Quýt gắn liền với những vòng quay của bờ xe nước nên khi bờ xe bị xóa bỏ, ông cảm thấy hụt hẫng, tiếc nuối vô cùng. Chính vì vậy, ngày ngày ông lặng lẽ phục dựng lại mô hình những bánh xe nước - dấu tích xưa bên dòng sông Trà.
Ông bảo, thông qua hình ảnh bánh xe nước được ông làm bằng chất liệu tre, nan quê nhà, có thể truyền lửa đến thế hệ con cháu về sự cần cù, vượt qua gian khó của những thế hệ cha ông thuở trước. Họ đã chế ngự được thiên nhiên khắc nghiệt để sản xuất trồng trọt, mưu sinh trên mảnh đất quê hương.
Để làm được bờ xe nước khoảng 10 - 12 bánh, thuở xưa thế hệ cha ông phải tốn nhiều công sức tìm đốn tre già, gọt mắt, cắt khúc rồi mang đi ngâm dưới nước suốt 6 tháng liền. Sau đó, tre được vớt lên phơi khô rồi chẻ nhỏ với nhiều kích cỡ để làm bánh xe. Người thợ dùng các loại dây rừng để buộc néo các bánh xe lại với nhau tạo guồng quay cho đồng bộ để đưa nước từ sông lên đồng ruộng.
Những mô hình bờ xe nước của ông Quýt chủ yếu có đường kính từ 2 - 4m.
Mỗi bờ xe nước có khoảng 10 - 12 bánh xe, cao 12m, dài 20m. Bắt đầu mùa lũ hằng năm, bờ xe nước được tháo dỡ đưa lên bờ để vừa tu sửa, vừa tránh bị lũ cuốn trôi. Qua mùa lũ, bờ xe nước tiếp tục được đưa xuống sông để cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp.
Việc làm bờ xe không khó, mà cái khó nhất là chọn được địa điểm và xây dựng bờ cừ. Bờ cừ phải xây theo hình chữ V, làm sao nước được dẫn dồn về một chỗ hẹp để tạo dòng chảy mạnh. Ngay tại điểm nước chảy mạnh sẽ đặt bờ xe.
Xung quanh mỗi bánh xe được buộc hàng trăm ống tre, đặt nghiêng một góc, sao cho khi bánh xe quay xuống nước, các ống tre này đong đầy nước. Lực chảy của nước do việc đắp bờ cừ sẽ đẩy bánh xe tiếp tục quay tròn, đưa ống nước lên cao và trút ra máng, dẫn nước đến đồng ruộng.
Đó là thực tế xưa kia, còn bây giờ, ông Quýt làm những mô hình bờ xe nước thu nhỏ, chủ yếu có đường kính từ 2 - 4m, mỗi bờ xe có từ 2 - 4 bánh. Đối tượng mà ông hướng đến khi làm mô hình bờ xe nước thu nhỏ này là các khu du lịch, nhà hàng, khách sạn, quán cà phê… vì những nơi này thường cần những thứ độc, lạ để trang trí.
Trước đây, các vật liệu chưa có nên phần lớn bờ xe được buộc bằng dây rừng. Còn bây giờ, ông làm mô hình bằng dây kẽm, dây đồng, cước để kết các chi tiết bằng tre của bánh xe nước lại với nhau, rồi phủ thêm lớp sơn bên ngoài nhằm tăng tuổi thọ.
"Công đoạn khó nhất khi làm một bánh xe nước là làm bánh cho cân bằng để khi vận hành không bị lỗi, quay vòng được trơn tru. Nếu sai kỹ thuật thì các bánh xe nước sẽ không thể hoạt động được. Mô hình bờ xe nước lớn nhất mà tôi làm đang đặt trong một khu du lịch ở xã Nghĩa Thuận, huyện Tư Nghĩa.
Bờ xe này có đường kính hơn 6m và hiện là bờ xe lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi. Tôi làm cái nhỏ nhất cũng mất gần nửa tháng mới xong. Vậy nên có người mua thì có thu nhập, mà không có người mua thì để ngắm cũng vui. Mục đích chính khi tôi làm mô hình bờ xe nước thu nhỏ này là muốn lưu giữ lại hình ảnh một thời của bờ xe nước trên sông Trà, chứ không phải vì kinh tế", ông Quýt cho biết.
Ông Nguyễn Văn Trọng (ở thôn Thống Nhất) cho biết, mặc dù ngày nay dấu tích về những bờ xe nước trên sông Trà đã không còn, nhưng với nhiều người thì kỷ niệm một thời gắn liền với những bờ xe nước trên con sông quê yêu thương vẫn còn mãi.
Và với tâm nguyện lưu giữ, bảo tồn công trình nổi tiếng một thời, ông Quýt đã dày công tái hiện lại bờ xe nước để nhắc nhớ về ký ức xưa. Ông Quýt tỉ mỉ trong từng chi tiết dù là nhỏ nhất, để cho ra bánh xe nước thu nhỏ với những bộ phận và kết cấu giống hệt những chiếc bánh xe nước cỡ lớn trước đây trên sông Trà.
Dù vậy, hiện nay, nỗi lo lớn nhất khiến ông Quýt luôn suy nghĩ là không có người kế tục. Ông sợ sau này những bánh xe nước dù là mô hình nhưng sẽ bị thất truyền. Ông vẫn thường tâm sự với thế hệ con cháu rằng, đây là cái hồn, ký ức của cha ông để lại.
Khi làm, ông dồn hết tình cảm vào những thớ tre, tạo ra bờ xe nước có hồn hơn để người đời được chiêm ngưỡng, để những giá trị truyền thống mãi trường tồn theo năm tháng, minh chứng cho những ký ức đẹp, đầy tự hào của người dân xứ Quảng.
Hình ảnh bờ xe nước đi vào trong ký ức của tuổi thơ, của đời người và là nguồn cảm tác của các thi nhân.
Lớp lớp người con của đất mẹ Quảng Ngãi, dẫu đi đâu, về đâu cũng vẫn ngân nga câu hát: "Rì rào dòng sông âm vang đôi bờ/ Mênh mông sông nước tiếng đàn xe/ Cuồn cuộn Trà Giang trăng nghiêng mây biếc sóng lao xao/ Làn gió vi vu ú ù…/ Nước cuốn trắng xóa reo vui/ Long lanh mưa bay đàn ca trong nắng hè...", trích lời bài hát "Nhớ đàn xe nước" của cố nhạc sĩ Vân Đông.
Mô hình bờ xe nước lớn nhất mà ông Quýt làm có đường kính hơn 6m.
Tác giả P.Guillenmiet trong công trình "Một ngành công nghiệp An Nam: Các guồng xe nước ở Quảng Ngãi" (năm 1926) cho rằng, các xe nước xuất hiện sớm nhất ở tỉnh Quảng Ngãi là ở sông Vệ vào năm 1740, cụ thể là xe nước ở làng Bồ Đề (nay thuộc xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi). Người đầu tiên đem guồng xe nước đến Quảng Ngãi là một người phụ nữ tên Diệm.
Trong khi đó, một nguồn tư liệu khác cho rằng, guồng xe nước có ở Quảng Ngãi vào thế kỷ XVIII dưới thời Tây Sơn, người sáng chế ra các guồng xe nước nổi tiếng là một người đàn ông tên Thêm, người làng Bồ Đề. Vào năm 1790, ông Thêm đã có một bờ xe nước trên sông Vệ.
Theo ông Cao Văn Chư - Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi, người đã có một thời gian dài cất công tìm hiểu về lai lịch của guồng xe nước ở Quảng Ngãi, bà Diệm và ông Thêm chắc chắn là hai người khác nhau.
Có thể bà Diệm mới là người đưa xe nước về Quảng Ngãi, còn ông Thêm là con cháu của bà Diệm. Sau khi bà Diệm mất, người ta xây một cái miếu thờ nhỏ để thờ bà ở làng Bồ Đề. Cho đến trước cách mạng tháng 8-1945, người dân ở 6 xã sử dụng nguồn nước từ guồng xe của bà Diệm vẫn giữ lễ giỗ bà. Họ khiêng heo đến cúng ở miếu thờ như một sự hàm ơn, cầu mong bà phù hộ.
Các nguồn tư liệu đều cho rằng, guồng xe nước đầu tiên ở tỉnh Quảng Ngãi được lắp đặt trên sông Vệ, sau đó lan rộng ra sông Trà và tồn tại hàng trăm năm sau đó. Bờ xe nước là biểu tượng của tỉnh Quảng Ngãi khi xưa, thể hiện sức sáng tạo vô hạn của cộng đồng dân cư gắn liền với nông nghiệp.
"Ở Quảng Ngãi, xe nước là giải pháp thủy lợi đặc biệt quan trọng. Trên sông Vệ và sông Trà từng có không dưới 114 bờ xe nước... Đầu mùa hè đến giữa mùa thu, bờ xe nước vận hành. Nước sông dâng lên 40 - 50cm, chảy vào các kênh mương hai bên bờ, rồi tự chảy hoặc bằng gầu sòng, gầu giai, xe lùa đến hàng ngàn mẫu ruộng mùa hè khát nước", trích sách "Quảng Ngãi tỉnh chí" của tác giả Nguyễn Bá Trác.
Ông Chư cho biết, một thời, từ Bắc vào Nam đều có guồng xe nước, nhưng khi nhắc đến nó, người ta nghĩ ngay đến Quảng Ngãi, bởi nơi đây có số lượng công trình nhiều, quy mô lớn tập trung ở sông Vệ và sông Trà. Điểm khác biệt lớn giữa bờ xe nước ở tỉnh Quảng Ngãi với những nơi khác là số bánh xe. Nếu ngoài Bắc chỉ có một thì ở Quảng Ngãi có đến 10 - 12 bánh.
Kiến trúc này được đánh giá rất cao và được một công sứ người Pháp nghiên cứu, làm hẳn một chuyên đề về nó nên người Quảng Ngãi rất tự hào. "Gần 30 năm qua, không còn hình ảnh bờ xe nước trên các con sông ở tỉnh Quảng Ngãi, nhưng ngay bên dòng sông Trà vẫn còn đó ông Mai Văn Quýt ngày ngày miệt mài dựng lại hình ảnh bờ xe nước. Ông đã góp phần không nhỏ vào công cuộc bảo tồn văn hóa truyền thống", ông Chư nói.
Phan Nhuận Phin (Cảnh sát toàn cầu Online)

Có thể bạn quan tâm

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

null