Lễ dạm ngõ kỳ lạ của người Churu

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Họ nhà gái kéo nhau sang nhà trai dạm ngõ, nếu đồng ý thì “bắt” chàng trai về làm rể để nuôi nhà mình. Đó là một trong nhiều điều lạ lùng trong hôn nhân gia đình của người Churu sinh sống chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng.

Từ sáng sớm, nhà bà Bơnhong Ma Giác ở bản Pró Ngó, xã Pró, huyện Đơn Dương có rất đông bà con chòm xóm và thanh niên tập trung chờ nhà gái sang “bắt chồng”...

 

Cô gái KaTơn đeo chuỗi hạt cườm cho chàng trai với ý nghĩa “tròng cổ dắt về” trong lễ dạm ngõ.
Cô gái KaTơn đeo chuỗi hạt cườm cho chàng trai với ý nghĩa “tròng cổ dắt về” trong lễ dạm ngõ.

“Soát xét cho kỹ lưỡng”

Mọi người cùng uống trà, uống rượu trong tiếng nhạc inh ỏi, tiếng cười to nói lớn đua chen như để át tiếng nhạc xập xình. Trong trạng thái rất hồi hộp, chàng rể Bơnhong Ya Brom cứ đi lui đi tới từ sân ra nhà, ra chiều bận rộn nhưng chẳng làm việc gì.

Người mẹ Ma Giác và người cha Pinăng Ya Than cũng bần thần, thỉnh thoảng liếc đồng hồ xem đã đến 9h chưa, là giờ họ nhà gái hẹn đến để hỏi chồng cho con gái KaTơn Mai Châu.

Đến giờ, hơn chục người họ nhà gái ăn vận như ngày thường kéo đến, được những người bà con trong họ nhà trai bắt tay chào đón và cùng vào trong nhà.

Tất cả cùng quây quần trên chiếu, nam theo nam, nữ theo nữ; Brom và Mai Châu ngồi giữa vòng cung bên cánh nam.

Ông Bơnhong Ya Lao, cậu chàng rể, huấn thị: “Người ta đến nhà rồi, cháu cứ soát xét cho kỹ lưỡng. Nếu cháu đồng ý thì cha mẹ, cậu mợ và mọi người ở đây sẽ đồng ý. Cháu nhận lấy người ta rồi thì cháu phải lo, thành vợ thành chồng rồi thì phải xây dựng gia đình êm ấm, lo cho vợ con là trách nhiệm của cháu, hay nay mai mà có bỏ nhau thì cháu là người chịu trách nhiệm!”.

Ya Brom gật gù tỏ vẻ đồng ý.

Tiếp đến, ông Ya Thơng, cậu cả của nhà gái, răn dạy cháu mình: “Brom đồng ý rồi đó, cả hai sẽ nên vợ nên chồng. Hỏi được rồi, cháu phải nghe lời ăn tiếng nói của chồng; đã đồng ý lấy nhau rồi thì phải nhường nhịn, phải tâm đầu ý hợp dựng xây gia đình hạnh phúc”.

 

KaTơn Mai Châu đeo nhẫn đính ước cho chàng trai Bơnhong Ya Brom tại lễ dạm ngõ.
KaTơn Mai Châu đeo nhẫn đính ước cho chàng trai Bơnhong Ya Brom tại lễ dạm ngõ.

“Tròng cổ dắt về”

Trong khi những ông cậu hai bề nhà trai nhà gái đang “tranh đua” giáo hóa cháu mình, bỗng giọng một người phụ nữ rắn rỏi cất lên: “Thế lấy nhau như thế này là ép uổng hay tự nguyện? Nè cháu KaTơn Mai Châu, khi đi đến đây, gia đình, bố mẹ có ép không, có thế nào thì cứ nói rõ điều đó cho chúng tôi biết”. Lời đó là của bà Ma Pâm, chị cả của mẹ chàng rể.

Cô gái ra chiều đồng ý. Bà tiếp lời: “Từ nay đã là vợ chồng của nhau rồi thì hãy yêu thương nhau, bồi đắp cho nhau. Nếu có đói khổ thì đói phải cho sạch, rách phải cho thơm. Đừng có vì việc hai vợ chồng mà làm liên can đến dòng họ. Mình làm mình ăn, người khác làm người khác ăn, đừng vì chuyện vợ chồng mà chửi dòng họ, mà chửi bới người ta!”.

Sự đồng ý của cả đôi lứa trước mọi lời hỏi gặng và thử thách của gia đình hai phía trong gần hai giờ đồng hồ cũng có hồi kết khi nhà gái đưa cặp nhẫn bạc và chuỗi hạt cườm ra giữa chiếu.

Mai Châu cầm lấy chiếc nhẫn và đeo vào tay Brom, biểu thị giao ước, gắn kết vợ chồng. Đồng thời cô lấy chuỗi hạt cườm đeo vào cổ Brom với ý nghĩa “tròng cổ dắt về nhà”...

Tiếp đến, chàng trai cũng xỏ nhẫn và đeo cườm cho cô gái, họ chính thức thành vợ thành chồng...

Trong hôn nhân của người Churu, quan trọng nhất vẫn là ở lễ dạm ngõ, bởi ở đó có sự chứng giám của gia đình, dòng họ, cộng đồng và thần linh thông qua sự thành khẩn của đôi lứa, gia đình và những lễ vật giao ước.

Những bước tiếp theo như cô gái về làm dâu nhà chồng ít hôm, lễ cưới và người vợ rước chàng rể sang ở hẳn bên nhà mình... chỉ mang tính thủ tục.

Chính vì vậy, lễ dạm ngõ - thời khắc mở đầu cho đôi lứa nên duyên - bỗng trở thành buổi giáo hóa làm hành trang cho đôi lứa đem theo đến suốt cuộc đời.

 

Ông cậu đang giáo hóa chàng rể Bơnhong Ya Brom trong lễ dạm ngõ.
Ông cậu đang giáo hóa chàng rể Bơnhong Ya Brom trong lễ dạm ngõ.

Vấn nạn thách cưới

Trong lễ dạm ngõ của Mai Châu và Brom, nhà trai thách cưới nhà gái 8 chỉ vàng, một ít tiền và một số chuỗi hạt cườm cho thân tộc gần gũi của nhà trai.

Nhiều người ví von số tiền nhà gái chấp nhận bỏ ra chẳng khác nào mua sức lao động về nuôi gia đình mình. Tuy nhiên, theo giải thích của các nhà chuyên môn, số tiền thách cưới chẳng phải để nhà trai dùng vào việc riêng, mà họ thường để bù lại vào khoản cưới chồng cho con gái.

Hình thức hỏi chồng của người Churu - một trong những dân tộc theo chế độ mẫu hệ, dẫu vậy đã cải biến rất nhiều đến ngày hôm nay, mà sự biến đổi nhất là đi ban ngày, không đi 1h-2h sáng như trước đây.

Ngày xưa người ta thường đi hỏi chồng ban đêm vì nhà gái... sợ xấu hổ nếu nhà trai không đồng ý. Có nhiều trường hợp đi hỏi đến năm lần bảy lượt nhưng nhà trai vẫn chưa đồng ý.

Hiện nay thì trai gái tìm hiểu, yêu nhau trước khi đi đến hôn nhân, do đó khi đàng gái đi dạm ngõ là “ăn chắc phần thắng”. Duy chỉ có việc thách cưới, nhà gái luôn nín thở hồi hộp trước nhà trai...

Nhiều vị già làng cho rằng trong chuyện thách cưới, đang có hai xu hướng trái ngược nhau trong xã hội Churu.

Xu hướng thứ nhất khá “nhẹ nhàng”, chỉ đòi hỏi lễ vật cho lấy lệ rồi thôi.

Ngược lại có nhiều gia đình rất câu nệ, thách cưới tùm lum thứ với giá cao khiến gia đình nhà gái vô cùng mệt mỏi, như gia đình bà H.M. ở xã Tà Năng, huyện Đức Trọng khi sang xã Tà Hine cùng huyện hỏi chồng cho con gái vào đầu năm nay.

 

Người Churu gốc Chăm?

Theo kết quả điều tra dân số ngày 1-4-2009, dân tộc Churu có 19.314 người, trong đó nhiều nhất là ở tỉnh Lâm Đồng với 18.631 người, chủ yếu quần cư tại hai huyện Đơn Dương và Đức Trọng.

Theo Ủy ban Dân tộc: “Có lẽ xa xưa, tổ tiên người Churu là một bộ phận trong khối cộng đồng Chăm; về sau, họ chuyển lên miền núi sống biệt lập với cộng đồng gốc nên thành người Churu”.

Nhà trai đã thách cưới 1 lượng vàng, 16 xâu cườm cùng nhiều trang phục, loại khăn và mười mấy chiếc nhẫn cho bà con trong họ. Riêng lễ vật cho đôi lứa cũng được đòi hỏi phải là nhẫn bạc cổ và loại cườm cổ rất đắt tiền...

Để tìm được loại cườm quý và nhẫn cổ, gia đình bà H.M. phải đi khắp nơi, sang nhiều xã lân cận và sang huyện Đơn Dương để lùng mua. Con của bà H.M. than thở với chúng tôi: “Gia đình mình rất mệt mỏi vì phải đi khắp nơi để mua lễ vật với giá rất cao, vậy mà mua hoài vẫn chưa đủ!”

Thái Lộc/tuoitre

Có thể bạn quan tâm

Một góc trung tâm xã Kon Chiêng.

Đánh thức Kon Chiêng

(GLO)- Từ quốc lộ 19 rẽ vào tỉnh lộ 666 khoảng 40 km thì đến xã Kon Chiêng. Hai bên đường là những triền mía xanh mát, thấp thoáng những mái nhà sàn trong không gian xanh thẳm của núi rừng, gợi về một Kon Chiêng đang vươn mình đổi thay.

Những chiếc bè nuôi thủy sản của ngư dân bị sóng đánh vỡ tan, trôi dạt ven biển.

Xác xơ làng chài sau cơn bão dữ...

(GLO)-Sau cơn bão dữ Kalmaegi (bão số 13), những làng chài vốn yên bình, đầy sinh khí bỗng chốc trở nên xác xơ, trơ trọi và ngổn ngang chỉ sau vài giờ bão quét qua. Cảnh quan rồi sẽ dần hồi phục, nhưng những mất mát, tổn thất vẫn sẽ đè trĩu trên đôi vai người dân ven biển rất lâu nữa...

Cảnh hoang tàn, đổ nát ở làng chài Nhơn Lý, Gia Lai. Ảnh: Đức Nhật

Gượng dậy sau bão

Bão Kalmaegi (bão số 13) đã tan, trên dải đất ven biển Gia Lai, Đắk Lắk, người dân lặng lẽ nhặt lại từng tấm tôn, viên ngói, gom góp chút bình yên từ đống hoang tàn.

Giữa tầng mây giữ trời

Giữa tầng mây giữ trời

(GLO)- Đỉnh Hàm Rồng cao hơn 1.000 m so với mực nước biển. Sườn núi sương mờ bao phủ này là nơi cán bộ, chiến sĩ Đài Quan sát thuộc Đại đội Thông tin (Phòng Tham mưu, Lữ đoàn Pháo phòng không 234, Quân đoàn 34) đồn trú.

Sống chậm với đĩa than trong thời đại số - Kỳ 1: Sự hồi sinh của dòng đĩa Vinyl

Sống chậm với đĩa than trong thời đại số - Kỳ 1: Sự hồi sinh của dòng đĩa Vinyl

Trong thời đại mà một thiết bị đeo tay có thể chứa đến 60 triệu bài hát, việc lựa chọn nghe nhạc từ một chiếc đĩa than tưởng như là lỗi thời. Nhưng thực tế, đó lại là biểu hiện của một xu thế tìm lại sự nguyên bản, chậm rãi và thật lòng trong trải nghiệm thưởng thức.

Sợi tơ mong manh kết nối trăm năm

Sợi tơ mong manh kết nối trăm năm

Khi nói đến sưu tầm đồ cổ ở Việt Nam, người ta thường nghe tới đồ gốm, sành sứ, hay đồ gỗ… chứ ít ai biết đến những món đồ vải mà qua đó thể hiện tay nghề thêu huy hoàng, vang danh thế giới của người Việt hàng trăm năm trước.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Kỳ lọt Top 2% nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Kỳ và hành trình vào top 2% nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới

(GLO)- Với nghiên cứu về ô nhiễm vi nhựa và công nghệ xử lý nước thải, Tiến sĩ Nguyễn Minh Kỳ (SN 1985, Phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tại Gia Lai) được Đại học Stanford (Mỹ) và Nhà xuất bản Elsevier vinh danh trong top 2% nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025.

Người lưu giữ hàng trăm “báu vật” Chư A Thai

Người lưu giữ hàng trăm “báu vật” Chư A Thai

(GLO)- Ở xã Chư A Thai (tỉnh Gia Lai), có một người đàn ông gắn bó cả cuộc đời với những “ký ức triệu năm” còn sót lại dưới lòng đất. Gần 25 năm qua, ông Rcom Sin đã lặng lẽ sưu tầm và trân trọng gìn giữ rất nhiều khối gỗ hóa thạch kết tinh của đất trời.

Sê San: Sông kể chuyện đời…

Sê San: Sông kể chuyện đời…

(GLO)- Dòng Sê San miệt mài chở nặng phù sa; sóng nước bồng bềnh không chỉ kể câu chuyện mưu sinh, bảo vệ phên giậu, mà còn gợi mở tương lai phát triển bền vững, góp phần khẳng định vị thế của vùng biên trong hành trình dựng xây quê hương, đất nước.

Ông Ksor Yung có lối sống trách nhiệm, gần gũi nên được mọi người quý mến. Ảnh: R’Ô Hok

Ksor Yung: Từ lối rẽ sai lầm đến con đường sáng

(GLO)- Từ một người từng lầm lỡ, ông Ksor Yung (SN 1967, ở xã Ia Rbol, tỉnh Gia Lai) đã nỗ lực vươn lên trở thành người có uy tín trong cộng đồng. Ông tích cực tham gia vận động, cảm hóa những người sa ngã, góp phần giữ gìn an ninh trật tự và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

Thôn Lao Đu giữa bát ngát núi rừng Trường Sơn

Lao Đu đã hết lao đao

Nằm bên đường Hồ Chí Minh huyền thoại, cuộc sống của hơn 150 hộ dân thôn Lao Đu, xã Khâm Đức, TP Đà Nẵng nay đã đổi thay, ngôi làng trở thành điểm du lịch cộng đồng giữa bát ngát núi rừng. 

Bền bỉ gieo yêu thương nơi vùng đất khó

Bền bỉ gieo yêu thương nơi vùng đất khó

(GLO)- Giữa bao thiếu thốn của vùng đất Pờ Tó, có một người thầy lặng lẽ, bền bỉ gieo yêu thương cho học trò nghèo. Thầy không chỉ dạy chữ mà còn khởi xướng nhiều mô hình sẻ chia đầy ý nghĩa như: “Tủ bánh mì 0 đồng”, “Mái ấm cho em”, “Trao sinh kế cho học trò nghèo”.

null