Huyền sử Đê Chơ Gang - Kỳ 2: Chỉ một con đường

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Vào khoảng năm 1956, chi bộ Đảng làng Đê Chơ Gang ra đời gồm 4 đảng viên do Đinh Tanh làm Bí thư. Từ đây, cuộc đấu tranh của dân làng chuyển sang trang mới. Sau năm 1954, với các chiến dịch khủng bố gắt gao của Mỹ-Diệm, đa số cơ sở của ta bị bắt hoặc bị vô hiệu hóa, Đê Chơ Gang trở thành địa bàn đứng chân duy nhất của cán bộ Huyện 8 (thị xã An Khê bây giờ). Cuộc đấu tranh quyết liệt “bên kia đạn sắt bên ta gan vàng”  để bảo vệ cán bộ, bảo vệ cách mạng đã diễn ra với những trang sử đầy bi tráng… 
Hai cuộc đấu tranh lưu huyết
Những năm 1955-1957, vòm trời các huyện phía Đông Gia Lai ngỡ chỉ một màu mây đen vần vũ. Từ phố huyện đến thôn quê, đâu đâu cũng ngột ngạt vì những chiến dịch “Tố Cộng” liên miên của Mỹ-Diệm. Không thể ngồi yên nhìn kẻ thù mặc sức truy bức sát hại cán bộ, đồng bào tham gia kháng chiến, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Huyện 8 phát động cuộc đấu tranh chính trị đòi hiệp thương tổng tuyển cử, đòi chính quyền địch phải quan tâm đến cuộc sống của người dân. Đê Chơ Gang được chọn làm phát súng mở đầu.
“Tôi lúc ấy mới 10 tuổi nhưng cũng theo đoàn đi, bởi cả làng hơn 50 người, già trẻ, lớn bé đều đi”-cụ Đinh Klum kể. Làng bỏ trống mặc heo gà nhịn đói. Vào đến cổng quận lỵ An Khê, bọn lính cầm súng ra chặn lại. Tên Quận trưởng hỏi: “Chúng mày lên đây làm gì?”. Một người đã được phân công từ trước trả lời: Quốc gia nói 2 năm thì thống nhất nước nhà, dân sẽ được no ấm, vậy mà lính Quốc gia suốt ngày vào làng quấy rối, đồng bào không được yên ổn làm ăn. Chúng tôi lên đây hỏi lời hứa Quốc gia… Mới nghe đến đó, tên Quận trưởng đã phẩy tay. Bọn lính hùng hổ xông tới lùa cả làng vào Sân bay Cây Me. 3 ngày đầu, chúng không cho ăn uống. Dưới mái tôn sùm sụp, nắng xói xuống như đổ lửa, đám con nít chúng tôi đứa nào đứa nấy lả đi… Đến ngày thứ tư, chúng mới đưa cho một rổ cơm với ít rau luộc và muối. Cho ăn xong, người già, đàn bà và trẻ em chúng lựa ra thả về; đàn ông và thanh niên bị giữ lại. “Sau này, tôi nghe kể: Địch chia họ ra từng nhóm nhỏ, gọi từng người một ra tra hỏi. Chúng bảo: Chúng mày kéo cả làng lên đây đấu tranh chắc hẳn là do bọn Cộng sản nằm vùng xúi giục. Đứa nào chỉ cán bộ, chỉ nơi chúng cất giấu súng đạn sẽ được thưởng nhiều tiền; nếu ngoan cố sẽ cho nếm cái này-nói rồi chúng giơ ra những dụng cụ tra tấn mang theo. Không ai sợ hãi. Ai cũng một mực: Làng chúng tôi không có Cộng sản nằm vùng. Vì Quốc gia hứa 2 năm sẽ có thống nhất, dân sẽ được tự do làm ăn nhưng lính Quốc gia suốt ngày vào làng quấy phá. Không làm ăn được, chúng tôi đói quá nên kéo lên đây đòi chính quyền cho muối, cho gạo chứ không có ai xui… Cả tháng trời dọa dẫm, truy bức đủ cách vẫn không tìm ra manh mối, cuối cùng chúng phải thả dần từng người, chỉ giữ lại Bí thư Đinh Tanh. Cũng là do nghi ngờ vì anh nói thạo tiếng Kinh chứ tuyệt nhiên không một ai khai báo”-cụ Đinh Klum kể thêm.
 Một góc làng Đê Chơ Gang hôm nay. Ảnh: K.N.B
Một góc làng Đê Chơ Gang hôm nay. Ảnh: internet
Bước sang năm 1957, các chiến dịch “Tố Cộng” của chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng khốc liệt. Mặc dù không tìm ra manh mối gì nhưng làng Đê Chơ Gang vẫn bị chúng nghi là bàn đạp của cán bộ Khu 8. Để vô hiệu hóa ngôi làng gan lì, địch quyết định “nhổ” cả làng vào giam giữ tại quận lỵ An Khê.
“Tôi lúc này đã 13 tuổi, được giác ngộ và được chính thức giao nhiệm vụ làm liên lạc cho ông Đẳng (đồng chí Trần Văn Bình, lúc này đang là Bí thư Huyện 8) nên cũng còn nhớ ít nhiều”-cụ Đinh Klum hồi tưởng… Sau khi xúc vào An Khê, chúng chia thành từng nhóm, nhốt vào những căn nhà tôn nóng bức, xung quanh quây kín dây thép gai. Mỗi ngày, chúng phát cho mỗi người một nắm cơm nhỏ với ít rau luộc trông không khác gì thứ rau để heo ăn. Cũng thủ đoạn truy bức như lần trước nhưng lần này chúng dai dẳng và tinh quái hơn nhiều. Mỗi tên “công dân vụ” được giao phụ trách một nhóm. Suốt ngày, chúng lúc thì tỉ tê mua chuộc, lúc thì hăm dọa. Ban đêm, chúng cũng không cho ngủ, cứ bất chợt dựng dậy tra hỏi, lục vấn… Rồi thì chúng gây chia rẽ bằng cách tung tin bịa đặt người này, người kia đã khai báo, chiêu hồi… đủ các thứ trò. Nhưng “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”. Từ lần đấu tranh trước, bà con đã rút được kinh nghiệm nên tinh thần lần này ai nấy vững hơn nhiều. Câu hỏi nào của chúng cũng chỉ ngắn gọn 4 tiếng “không biết, không thấy”… Suốt cả mấy tháng trời giở đủ các ngón nghề mà chẳng moi được thông tin gì, cuối cùng chúng giữ lại gần 20 người đáng nghi nhất. Không chỉ lục vấn, truy bức, những người bị “chấm đỏ” như Đinh Tanh, Đinh Tơi, Đinh Thúi còn bị còng xiềng, tra tấn rất dã man. Tuy nhiên, địch không hay rằng, những người dân bình thường mà chúng đã không khuất phục được thì những con người trung kiên này làm sao có thể khuất phục nổi. Cuối cùng thì chúng phải thả ra lần lượt từng người, kể cả Bí thư chi bộ Đinh Tanh sau nửa năm trời cầm cố.
Mũi lao bên nách địch 
Sau đợt khủng bố, truy bức khốc liệt, “đẽo gọt” từng người, địch yên trí là Đê Chơ Gang đã được “gột rửa”, không còn dám theo Việt Cộng nữa. Nào ngờ vào khoảng cuối năm 1958, một sự việc xảy ra khiến địch thừa nhận rằng chúng đã lầm. Việc bắt dân làng Đê Chơ Gang “ly khai” cách mạng chỉ là ảo tưởng.
Hôm đó, trên chỉ thị cho chi bộ làng Đê Chơ Gang mua một lượng hàng hóa khá lớn để gửi vào căn cứ. Đinh Tanh đưa hơn 10 người ra chợ An Khê để mua. Lúc mang hàng về, vừa đến thôn An Lũy, có lẽ do có kẻ mật báo, bọn lính đã phục sẵn từ bao giờ. Nhóm đi sau người bỏ hàng chạy, người ẩn náu vào nhà người quen. Nhóm đi trước gồm Đinh Tanh, Đinh Klum, Her và Đinh Mui bị bắt.
Cụ Đinh Klum nhớ lại: “Gói hàng tôi mang có 4 lon sữa hộp. Chúng hỏi tôi: Mày mua sữa tiếp tế cho Việt Cộng phải không? Đứa nào bảo mày đi mua thì khai mau! Đã được các anh dự lường cho tình huống này, tôi nói: Mẹ tôi mới chết, em tôi còn nhỏ, tôi đi mua sữa về cho nó bú thôi. Nghe vậy, chúng bỏ tôi quay sang lục gói các anh mang. Ni lông, vải đỏ, giấy pơ luya, giấy than, ruy băng đánh máy… lần lượt lòi ra. Đồng bào dân tộc mà cần những thứ này? Tang chứng rõ quá rồi, không thể chối cãi. Vậy là tất cả bị chúng còng tay lôi về quận”.
Khác với những lần dò tìm hú họa, lần này với vật chứng rõ ràng trên tay những con người cụ thể, hy vọng sẽ tìm ra cơ sở bí mật, đường dây tiếp tế của ta, địch tra tấn 4 anh em bằng hết những thủ đoạn dã man nhất: Đổ nước ớt trộn xà phòng vào miệng rồi giẫm cho ộc ra; trói quặt 2 tay treo ngược lên xà nhà, quay điện… Ai nấy cắn răng chịu đựng, động viên nhau kiên quyết không khai báo. 4 anh em không hay rằng, việc họ bị bắt lần này cũng đang khiến “ở nhà” hết sức lo lắng. Với những tang chứng có được, rất có thể anh em sẽ bị địch dồn đến chân tường. Nếu cơ sở Đê Chơ Gang bị lộ thì sẽ là một tổn thất rất lớn, bởi trong bối cảnh địch khủng bố gắt gao, rất khó tìm được một địa bàn đứng chân như Đê Chơ Gang. Để đề phòng bất trắc, cơ quan huyện phải dời vào sâu hơn, tuy vậy vẫn tin tưởng các anh sẽ không khai báo. Niềm tin được đặt đúng chỗ. Một rồi 3-4 tháng, tình hình vẫn yên ổn… Không moi được gì ở các anh, địch phải đưa tất cả về Quy Nhơn. Đinh Mui và Her bị xử án 3 năm, Đinh Tanh 5 năm. Riêng Đinh Klum vì tuổi còn nhỏ, chúng giam 3 tháng rồi thả. Dù không có chứng cứ nhưng sau sự việc này, địch vẫn tăng cường đàn áp. Những người cốt cán của phong trào lần lượt bị bắt. Qua năm 1960, làng Đê Chơ Gang phải rút vào Kông Krúi.
Cụ Đinh Klum kể: “Đó là những năm dài vô cùng gian khổ, hơn cả khi ở làng cũ rất nhiều. Lúc đó, tôi đã đi tù về, lại tiếp tục làm liên lạc. Quyết diệt cho được ngôi làng “toàn Việt Cộng” cứ như mũi lao nhức nhối bên nách, địch cho máy bay tìm kiếm, thả biệt kích lùng sục. Không thể nhớ mỗi năm bao nhiêu lần phải dời chỗ ở, bao nhiêu bận làm nhà. Gọi là “nhà” nhưng thực ra chỉ là những căn chòi tạm ẩn dưới cây rừng để che nắng che mưa. Một cuộc “chơi ú tìm” đầy trí tuệ với địch để tồn tại diễn ra dai dẳng: Cứ nơi nào địch ném bom thì làng dời tới đó. “Đi không dấu, nấu không khói” là câu cửa miệng ai cũng phải thuộc lòng. Chỉ mang 2 con heo đi cũng phải 2 người: người trước dắt, người đi sau xóa dấu vết… Tuy vậy, gian nan hơn tất cả là sản xuất để có cái ăn. Việc làm rẫy chỉ được tiến hành vào chiều tối hay lúc sáng tinh mơ. Trái bắp, hạt lúa làm ra đôi khi phải đổi bằng máu nhưng chưa chắc đã được ăn. Phát hiện ra nơi nào có rẫy là máy bay địch đến ném bom, rải chất độc hóa học. Có năm không có hạt lúa nào, cả làng phải ăn trái cây rừng, củ mài thay cơm… Gian khổ gấp trăm lần ngọn Kông Krúi nhưng Đê Chơ Gang không một ai đầu hàng địch. Càng gian khổ, dân làng càng gắn bó với cách mạng. Hạt lúa chia đôi; chiêng ghè bán hết để lấy tiền cho cách mạng. Tải đạn, đưa tin, bất kể đêm ngày, trên cần là Đê Chơ Gang có. Một niềm tin tất thắng luôn cháy bỏng trong mỗi một con người để niềm tin ấy cuối cùng trở thành hiện thực…
 NGỌC TẤN
---------------------------
Công ty TNHH một thành viên Xăng dầu Bắc Tây Nguyên tài trợ cuộc thi này.

Có thể bạn quan tâm

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

Nguyễn Vũ Mạnh Khang trở về trong sự chào đón nồng nhiệt. Ảnh: Hồ Điểm

Từ những câu hỏi về ánh sáng…

(GLO)- Giành huy chương bạc tại kỳ thi Olympic Vật lý châu Âu (EuPhO) 2026, Nguyễn Vũ Mạnh Khang, học sinh Trường THPT chuyên Lê Quý Ðôn (phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai) góp phần cùng đội tuyển Việt Nam ghi dấu ấn tại sân chơi học thuật quốc tế.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Khép lại cuộc chia ly sau 51 năm

Tìm lại người thân sau 51 năm lưu lạc trên đường 7

(GLO)- Năm 1975, giữa dòng người di tản trên đường 7 (nay là quốc lộ 25), cô bé Hồ Thị Diễm lạc mất gia đình và được người Jrai ở buôn Du (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai) cưu mang, nuôi dưỡng. Hơn nửa thế kỷ sau, đứa trẻ lạc năm nào bất ngờ tìm lại được người thân nhờ một video trên YouTube.

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

(GLO)- Giữa biển trời Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ đảo Tiên Nữ và Núi Le C vẫn kiên cường bám biển, giữ đảo. Vượt qua nắng gió khắc nghiệt và thiếu thốn nơi đầu sóng, những người lính đảo đang lặng thầm vun đắp màu xanh sự sống, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của biển đảo quê hương.

“Đường về” của Siu Un

“Đường về” của Siu Un

(GLO)- Sau những sai lầm trong quá khứ, ông vượt qua mặc cảm, thay đổi nhận thức, trở thành người tích cực tuyên truyền pháp luật, vận động bà con sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, góp phần giữ gìn bình yên buôn làng.

Những phận đời bới rác mưu sinh

Những phận đời bới rác mưu sinh

(GLO)- Mỗi buổi sáng, khi phố Núi còn bảng lảng sương sớm, những chuyến xe chở rác lại nối đuôi vào khu tập kết rác xã Gào. Giữa mùi hôi nồng và đàn ruồi dày đặc, những người phụ nữ lặng lẽ cúi mình trên nền đất nhớp nháp, cần mẫn bới tìm chai nhựa, lon bia, giấy vụn…

Người gieo rừng trong bình thủy tinh

Người gieo rừng trong bình thủy tinh

(GLO)- Từ 300 triệu đồng có được sau khi bán mảnh đất canh tác duy nhất của mình, anh Thái Xuân Biên (40 tuổi, ở thôn An Thượng 3, xã Cửu An) bước vào lĩnh vực công nghệ sinh học dù chưa từng biết đến phòng thí nghiệm. 6 năm sau, mỗi năm doanh nghiệp của anh sản xuất 19 triệu cây giống.

null