Theo đó, hệ thống học liệu số quốc gia được xác định là hạ tầng dùng chung do Nhà nước quản lý thống nhất. Hệ thống được xây dựng theo hướng mở, liên thông, lấy dữ liệu làm trung tâm, ưu tiên kế thừa và kết nối với các hạ tầng, nền tảng, dịch vụ số quốc gia hiện có.
Mục tiêu cốt lõi của đề án là bảo đảm học sinh, giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trên cả nước được tiếp cận nguồn học liệu số chất lượng cao, được chuẩn hóa và miễn phí.
Qua đó, người học có thêm điều kiện chủ động tìm kiếm tài liệu phục vụ học tập, giáo viên có nguồn tư liệu phong phú để đổi mới phương pháp giảng dạy, còn các cơ sở giáo dục có thể khai thác nguồn học liệu dùng chung.
Đáng chú ý, đề án đặt mục tiêu xây dựng, vận hành Cổng học liệu số quốc gia đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng tại 100% cơ sở giáo dục phổ thông trên toàn quốc, theo quy mô và yêu cầu kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Về nội dung, hệ thống hướng tới hoàn thành bộ học liệu lõi quốc gia cho các môn học, cấp học theo chương trình giáo dục phổ thông. Các loại học liệu được ưu tiên phát triển gồm: tài liệu tương tác đa phương tiện, mô phỏng thực tế và thí nghiệm ảo.
Một nội dung đáng chú ý khác là kết nối, chia sẻ dữ liệu học liệu số đã được chuẩn hóa với các cơ sở dữ liệu, nền tảng dữ liệu quốc gia có liên quan; đồng thời kết nối với ứng dụng định danh quốc gia VNeID và các phương thức xác thực phù hợp nhằm phục vụ xác thực người dùng.
Tuy nhiên, đề án quy định học sinh không bị hạn chế quyền tiếp cận học liệu chỉ vì chưa có tài khoản định danh điện tử. Đối với học liệu công khai, miễn phí, người dùng không bắt buộc phải đăng nhập. Hệ thống cũng phải đáp ứng yêu cầu về an ninh mạng, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
Bên cạnh phát triển hạ tầng và nội dung số, đề án chú trọng bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên, học sinh và cán bộ quản lý giáo dục theo lộ trình. Việc quản lý, chia sẻ và khai thác học liệu phải bảo đảm quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định pháp luật.
Đặc biệt, Nhà nước ưu tiên nguồn lực, hạ tầng, thiết bị và giải pháp truy cập cho học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, cũng như học sinh khuyết tật.
Đây là một trong những giải pháp nhằm tăng cơ hội tiếp cận tri thức, góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa khu vực đô thị và những địa bàn còn khó khăn.