Sáng 17-10, các thành viên Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai tham gia thảo luận ở tổ về các dự án: Luật Bưu chính (sửa đổi) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường.
Bảo vệ quyền lợi người dùng dịch vụ bưu chính
Đánh giá cao tinh thần đổi mới của dự thảo luật Luật Bưu chính (sửa đổi), đại biểu (ĐB) Bùi Quang Huy cho rằng việc chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, lấy sự thuận tiện, an toàn của người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, lấy công nghệ số làm động lực là hướng đi phù hợp.
Từ thực tiễn phát triển thương mại điện tử, đại biểu đề nghị bổ sung các quy định nhằm kiểm soát rủi ro trong hoạt động bưu chính, nhất là quản lý dòng tiền thu hộ khi giao hàng (COD), ngăn chặn lừa đảo qua bưu kiện và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Đối với dòng tiền COD, ĐB Huy cho rằng đây là tài sản của người bán hàng được doanh nghiệp bưu chính giữ hộ trong quá trình giao nhận. Nếu thiếu cơ chế kiểm soát chặt chẽ, nguy cơ doanh nghiệp chiếm dụng tiền thu hộ để đầu tư, kinh doanh có thể gây thiệt hại lớn cho tiểu thương.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 31 quy định doanh nghiệp cung ứng dịch vụ COD phải mở tài khoản chuyên biệt tại tổ chức tín dụng, tách biệt dòng tiền thu hộ với vốn và tài sản của doanh nghiệp; nghiêm cấm sử dụng khoản tiền này vào mục đích kinh doanh, đầu tư khác. Đồng thời, cần quy định thời hạn tối đa hoàn trả tiền thu hộ do Chính phủ quy định, bảo đảm quyền lợi của người bán hàng.
Đối với tình trạng lừa đảo bằng bưu kiện COD “trên trời rơi xuống” mà mình không hề đặt mua, ĐB Huy kiến nghị luật hóa quyền đồng kiểm về số lượng và tình trạng bên ngoài của hàng hóa trước khi ký nhận, thanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận điện tử khác giữa người gửi và người nhận. Doanh nghiệp bưu chính cũng cần có quy trình cảnh báo, từ chối nhận gửi hoặc tạm dừng phát đối với các tài khoản gửi hàng loạt bưu kiện COD đến địa chỉ không xác thực.
Một vấn đề khác là bảo vệ dữ liệu cá nhân trên nhãn bưu gửi. Theo ĐB Bùi Quang Huy, thông tin họ tên, số điện thoại, địa chỉ chi tiết và hàng hóa có thể bị thu thập, sử dụng trái phép khi vỏ hộp bị vứt bỏ. Do đó, cần bổ sung quy định yêu cầu doanh nghiệp áp dụng giải pháp kỹ thuật để che mờ, ẩn bớt hoặc mã hóa thông tin cá nhân trên nhãn bưu gửi; chỉ truy xuất đầy đủ dữ liệu thông qua quét mã định danh nghiệp vụ phục vụ giao hàng.
Đại biểu cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về bí mật thư tín của công dân khi kiểm tra bưu gửi. Việc kiểm tra cần có căn cứ, điều kiện và trình tự chặt chẽ, tránh lạm quyền, xâm phạm quyền riêng tư; đồng thời xử lý nghiêm hành vi tự ý mở bưu gửi, làm lộ lọt thông tin cá nhân.
Đối với các điểm phục vụ bưu chính không người phục vụ, ĐB Huy cũng đề nghị dự thảo luật quan tâm đến thực tiễn triển khai tại các đô thị, đặc biệt là hệ thống tủ nhận hàng tự động tại chung cư. Cần có quy định phù hợp để ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp tự ý chiếm dụng hoặc độc quyền các vị trí lắp đặt, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh và quyền tiếp cận dịch vụ của người dân.
Phân định ranh giới giữa bưu chính và vận tải hàng hóa
Cùng quan tâm đến việc hoàn thiện khung pháp lý cho lĩnh vực bưu chính, ĐB Đinh Ngọc Quý cho rằng sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử và dịch vụ vận chuyển hàng hóa đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới cách tiếp cận trong xây dựng luật.
Theo đại biểu, Luật Bưu chính năm 2010 được xây dựng trên nền tảng hoạt động bưu chính truyền thống. Trong khi đó, khi dịch vụ bưu chính mở rộng sang vận chuyển hàng hóa, ranh giới giữa dịch vụ bưu chính và dịch vụ vận tải ngày càng khó phân biệt. Người sử dụng thường chỉ quan tâm hàng hóa được giao nhận an toàn, đúng yêu cầu, chứ không dễ xác định dịch vụ mình sử dụng thuộc loại hình nào.
Do đó, ĐB Quý đề nghị Ban soạn thảo làm rõ khái niệm bưu chính tại khoản 3 Điều 3, xác định cụ thể phạm vi bưu phẩm, bưu kiện và các hoạt động thuộc dịch vụ bưu chính, tránh chồng lấn với Điều 233 Luật Thương mại. Việc phân định rõ phạm vi điều chỉnh sẽ giúp doanh nghiệp xác định đúng điều kiện hoạt động, đồng thời bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước.
Về mạng bưu chính, đại biểu chỉ ra sự chưa thống nhất giữa quy định xác định doanh nghiệp vận hành mạng và quy định quản lý dữ liệu tại Điều 36. Trong khi các thành phần cốt lõi của mạng bưu chính được xác định gồm hoạt động chia chọn bưu gửi, hệ thống điểm phục vụ và hệ thống thông tin vận hành mạng, quy định về dữ liệu lại đề cập cả quá trình vận chuyển bưu gửi.
Từ đó, ĐB Quý đề nghị rà soát, thống nhất cách tiếp cận, làm rõ các thành phần cốt lõi của mạng bưu chính và phạm vi dữ liệu cần quản lý, tránh chồng chéo trong quá trình thực hiện; đồng thời phân biệt rõ công trình bưu chính với cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của mạng bưu chính.
Góp ý vào dự án Luật Bưu chính (sửa đổi), ĐB Lê Hoàng Anh cho rằng tên gọi “Luật Bưu chính” cho thấy khái niệm bưu chính có vai trò nền tảng, chi phối toàn bộ nội dung dự thảo.
Do đó, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, cân nhắc bổ sung quy định giải thích khái niệm “bưu chính” vào dự thảo luật, bảo đảm tính rõ ràng, thống nhất và tạo nền tảng pháp lý cho việc hoàn thiện các quy định liên quan.
Về quy định huy động, trưng dụng trong tình trạng khẩn cấp tại Điều 7, ĐB Đinh Ngọc Quý đề nghị đối chiếu với Luật Tình trạng khẩn cấp, Luật Phòng thủ dân sự và các quy định liên quan, bảo đảm thống nhất về khái niệm, trường hợp áp dụng và thẩm quyền thực hiện.
Đại biểu cho rằng phạm vi doanh nghiệp được huy động không nên chỉ giới hạn ở doanh nghiệp vận hành toàn trình mạng bưu chính. Tùy yêu cầu thực tế, cơ quan có thẩm quyền có thể cần huy động doanh nghiệp tham gia từng công đoạn của hoạt động bưu chính để đáp ứng nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp.
Đối với các quy định về điều kiện hoạt động, đại biểu đề nghị làm rõ sự khác nhau giữa yêu cầu “thuê” và “thỏa thuận” đối với doanh nghiệp không vận hành mạng bưu chính, tránh cách hiểu và áp dụng không thống nhất.
Đồng thời, cần rà soát quy định tại Điều 32 về nghĩa vụ bảo đảm kết nối liên thông giữa các mạng bưu chính trên cơ sở thỏa thuận thương mại. Nếu đây là điều kiện kinh doanh thì cần thể hiện đúng vị trí, tính chất trong dự thảo luật. Quy định về duy trì năng lực mạng bưu chính cũng cần cụ thể hóa, làm rõ yêu cầu duy trì điều kiện vận hành hay năng lực thực tế của mạng để bảo đảm tính khả thi.