Giờ cứu nước - Kỳ 2: Bỏ bút để cầm súng

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Sau đêm đầu kháng chiến, cuộc vệ thành Hà Nội ngày càng khốc liệt. “Máu chiến sĩ bảo vệ ngọn cờ độc lập loang đỏ khắp thủ đô”.


 

70 năm đã qua nhưng ông Hoàng Giáp vẫn nhớ quay quắt về những mất mát của đồng đội trong Ngày toàn quốc kháng chiến
70 năm đã qua nhưng ông Hoàng Giáp vẫn nhớ quay quắt về những mất mát của đồng đội trong Ngày toàn quốc kháng chiến


Ngoài lực lượng chính quy Vệ quốc đoàn, đồng bào mọi tầng lớp đã đứng lên, trong số ấy có những bàn tay mới hôm qua chỉ quen cầm bút...

Theo tiếng gọi non sông

“Đoàn thủ đô thề xung phong quyết tử/ Nguyện xả mình cho Tổ quốc quyết sinh/ Nên bao lần vì đất nước điêu linh/ Nghe sôi dậy trong tim dòng máu Việt.../ Nguyện cứu nước thoát khỏi vòng nguy biến/ Tuốt gươm thiêng thề trả mối thù chung...”.

70 năm đã trôi qua với bao đổi thay, nhưng các chứng nhân năm nào vẫn nhớ mãi bài thơ Thủ đô huyết lệ luôn sục sôi trong huyết quản những người lính vệ thành Hà Nội.

Ông Hoàng Giáp kể anh em mình đang học hệ tú tài Trường Bưởi thì gia nhập kháng chiến. Mà lúc ấy cũng đâu riêng gia đình ông, rất nhiều học sinh, sinh viên, trí thức từ Nam ra Bắc đều tạm rời sách vở, cầm súng theo tiếng gọi độc lập của non sông.

Ông nhớ lúc ấy khu đại học ở Đông Dương học xá, Hà Nội, có nhiều tên tuổi hoạt động yêu nước rất nổi bật như Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Văn Khê, Mai Văn Bộ, Trần Cửu Kiến...

Những ngày căng thẳng trước giờ nổ súng, họ sáng tác ca khúc và thực hiện nhiều phong trào kêu gọi ái quốc như làm lễ tưởng niệm Hai Bà Trưng, diễn vở Bạch Đằng Giang, Bóng người núi Lam, Hội nghị Diên Hồng, Hồn sĩ tử...

Những lời hát như “Mây nước linh thiêng còn chép rằng. Thời liệt oanh của bao người trung chánh. Vì yêu quốc gia vui lòng hiến thân. Liều mình ra tay tuốt gươm bao lần” làm mọi người ứa nước mắt xúc động và máu nóng trong tim cuộn trào.

Hoạt động cách mạng từ năm 1944, ông Hoàng Giáp tham gia khởi nghĩa tháng 8-1945, rồi đi Tây Tiến ngay đợt đầu năm 1946. Khi Hà Nội nổ ra trận chiến 60 ngày đêm, ông lại trở về tham chiến trực tiếp.

“Bố tôi lúc ấy là kỹ sư nông lâm học trường Pháp về, nhiều anh em trong nhà cũng học hành trường Tây nên được người Pháp o bế lắm. Họ hứa hẹn nhiều thứ nếu gia đình tôi theo Pháp, nhưng chúng tôi đã khước từ.

Tuổi trẻ thời bình bây giờ khó cảm nhận được tinh thần yêu nước thời ấy. Thanh niên chúng tôi đều nghĩ mình là một phần của Tổ quốc. Máu xương chúng tôi cũng chính là máu xương của Tổ quốc” - ông Giáp kể.

Khi anh em nhà ông lao vào cuộc chiến khốc liệt, người anh ruột Hoàng Tường Tri của ông đã hi sinh.

Đó là một đêm rét buốt giữa tháng 1-1946. Đội tự vệ Duy Tân của anh em ông Giáp được lệnh sáp nhập vào tiểu đoàn chính quy 64 Vệ quốc đoàn để bổ sung cho số chiến sĩ thương vong.

Đơn vị họ có 96 chiến sĩ, nhưng chỉ có 1 khẩu tiểu liên Sten, 1 carbine, còn lại là 23 súng trường cũ kỹ với không quá 30 viên đạn cho mỗi khẩu.

Hỏa lực mạnh nhất của trung đội này là 130 quả lựu đạn, 2 bom ba càng để chống chọi với trọng pháo, xe tăng, thiết giáp và cả máy bay ném bom...

 

Quân dân Hà Nội dựng chiến lũy trên đường phố Hà Nội - Ảnh tư liệu Q.V. chụp lại
Quân dân Hà Nội dựng chiến lũy trên đường phố Hà Nội - Ảnh tư liệu Q.V. chụp lại


Chiến đấu đến những người cuối cùng

Ông Hoàng Giáp là phái viên tác chiến Bộ chỉ huy mặt trận về nhận nhiệm vụ chỉ huy thay người đã hi sinh.

Họ bố trí trận địa gần nhà thương René Robin (Bạch Mai), vị trí trọng yếu chặn quân Pháp tiến xuống ngã tư Vọng, nối đường Hà Nội với Phủ Lý, Nam Định.

Không phá được vị trí phòng thủ này, quân lê dương dùng trọng pháo và máy bay oanh tạc dữ dội nhiều ngày liền. Nhà cửa, công sự tan hoang, nhưng kháng chiến quân vẫn giữ vững được trận địa.

Suốt đêm 14-1, quân Pháp huy động nhiều lượt tăng, thiết giáp và bộ binh thiện chiến là biệt kích dù mũ đỏ để tiêu diệt quân kháng chiến. Lính Pháp bị đẩy lùi hết đợt này đến đợt khác mặc dù kháng chiến quân rất tiết kiệm đạn.

Đến 10 giờ sáng hôm sau, cả hai bên đều thương vong nặng nề. Quân Pháp sợ mìn, ép dân đi dọn đường, cản mũi súng đối phương.

11 giờ, Hoàng Tường Tri trúng đạn đại liên vào bụng lúc đang cầm súng bắn kẻ thù. Hoàng Giáp ứa nước mắt nhìn anh mình bị mất máu đến chết mà không thể cứu được.

Tiểu đội trưởng Lục và 10 chiến sĩ nữa thương vong. Các đơn vị khác cũng hi sinh rất nặng trước hỏa lực gấp nhiều lần của đối phương. Có đơn vị gần hết người, nhưng những người còn lại vẫn tiếp tục chiến đấu.

Tối mùa đông ấy, đơn vị Hoàng Giáp cuối cùng chỉ còn 6 người và nữ cứu thương Hoàng Thị Dung. Lát sau, Dung cũng trúng đạn, xạ thủ Hùng lao lên cứu, lại tiếp tục trúng đạn.

Ông Giáp lệnh mấy chiến sĩ còn lại tạm rút trước tiếng hò hét của lính dù “En avant! Dernier coup de balai! Pas de prisonniers!” (Tiến lên! Nhát chổi cuối cùng! Không bắt tù binh). Mình ông Giáp ở lại chặn hậu với khẩu Sten chỉ còn vài viên và 4 quả lựu đạn mà ông đã tính sẽ dành quả cuối cùng để hi sinh với đối phương.

Đột nhiên trong quân Pháp có tiếng hô “Cessez le feu! Rassemblement” (Ngừng bắn! Tập hợp lại!). Nhờ vậy ông mới được sống sót. Thả tay ra khỏi cò súng, ông Giáp bò lên vuốt mắt thi thể đồng đội đang nằm ngửa mặt lên trời.

Nửa đêm, ông tìm về tiểu đoàn. Mọi người đều mệt lả, nhưng không ai chợp mắt được vì thương tiếc đồng đội đã hi sinh.

Theo Tuoitre


Nhiều năm nhắc nhớ tháng ngày vệ quốc bi hùng, không ai có thể biết chính xác có bao nhiêu học sinh sinh viên đã bỏ tay bút để cầm súng đổ máu cho Tổ quốc.

Một buổi chiều đầu đông sau 70 năm kể từ Ngày toàn quốc kháng chiến, tôi đã lặng người ngồi nghe bà Vũ Thị Vượng, con gái gia đình bác sĩ Vũ Đình Tụng, kể lại sự chiến đấu và hi sinh anh dũng của các anh trai mình.

Họ là Vũ Đình Tuân, Vũ Đình Tín, Vũ Chí Thành, đang là sinh viên trường y và các trường khác ở Hà Nội.

Kháng chiến bùng nổ, giáo sư - bác sĩ Vũ Đình Tụng được bổ nhiệm làm giám đốc Nha y tế Bắc bộ nhưng vẫn trực tiếp ra mặt trận, cầm dao mổ cứu chữa thương binh.

Đến một đêm, ông nhận một ca đặc biệt, nhưng phải đành nén khóc vuốt mắt cho thương binh đó ra đi vì vết thương quá nặng.

Đó chính là Vũ Đình Thành, người con trai của ông, trong đội cảm tử quân có nhiệm vụ trừ gian. Thành bị kẻ thù bắn trả, mất máu quá nhiều, trạm cấp cứu tiền phương phải chuyển về trạm giải phẫu trong tầng hầm Bệnh viện Bạch Mai.

Nơi ấy, cha con ông Vũ Đình Tụng và Vũ Đình Tuân đang cứu thương, nhưng không thể cứu được khúc ruột của mình. Trước đó vài tháng, Vũ Đình Tín cũng hy sinh...

Có thể bạn quan tâm

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

null