Đêm trước của Cách mạng Tháng Tám

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Cách đây hơn 75 năm, vào ngày 11.3.1945, những người tù cộng sản ở Ba Tơ (Quảng Ngãi) đã đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, thành lập Đội du kích Ba Tơ - tiền thân của lực lượng vũ trang Quân khu 5. 
Tượng đài Khởi nghĩa Ba Tơ ở thị trấn huyện lỵ Ba Tơ (Quảng Ngãi) TRẦN ĐĂNG
Tượng đài Khởi nghĩa Ba Tơ ở thị trấn huyện lỵ Ba Tơ (Quảng Ngãi). Ảnh: TRẦN ĐĂNG
Các nhà nghiên cứu lịch sử xem cuộc khởi nghĩa này như là “đêm trước của Cách mạng Tháng Tám” ở khu vực Trung Trung bộ.
Năm 2016, trung tướng Nguyễn Đôn - thành viên cuối cùng trong 17 tay súng ngay từ buổi đầu thành lập Đội du kích Ba Tơ ra đi ở tuổi 98 tại Đà Nẵng. Hơn 10 năm trước, trong một cuộc phỏng vấn với vị tướng từng là Đội phó của Đội du kích Ba Tơ này, tôi có hỏi ông: “Ngày 9.3.1945, Nhật hất cẳng Pháp, mình nhận mật lệnh từ đâu để khởi nghĩa và giành được chính quyền vào ngày 11.3, trong khi chỉ thị của Trung ương Đảng “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” thì ra đời ngày 12.3.1945?”. Tướng Đôn trầm ngâm: “Thực ra, để có cuộc khởi nghĩa ấy, chúng tôi đã chuẩn bị từ khá lâu. Thành lập chi bộ Đảng tại Ba Tơ từ hơn một năm trước, là chúng tôi đã nuôi ý định khởi nghĩa rồi. Nhưng để đưa ra thời điểm khởi nghĩa là cả một sự cân nhắc, vì sớm hơn cũng không được mà muộn hơn cũng không xong”.
Rõ ràng, thời khắc lịch sử mà những người tù cộng sản ở Ba Tơ đã chọn lựa để hành động quả là một sự mẫn cảm chính trị không dễ có được. Có lẽ những năm tháng trui rèn trong các nhà tù thực dân Pháp đã giúp cho họ một nhãn quan chính trị có thể nhìn thấy sự chín muồi của thời cơ để giành lấy chính quyền. Như là sự sắp đặt của lịch sử, những người tù cộng sản từ khắp nơi lại tụ hội về đây dưới danh nghĩa “căng an trí”, vô tình đã giúp họ dựng nghiệp lớn, làm nên cuộc cách mạng mà dư ba của nó lay động suốt chiều dài lịch sử 75 năm qua: Khởi nghĩa Ba Tơ.

Trung tướng Nguyễn Đôn dịp kỷ niệm 55 năm ngày Khởi nghĩa Ba Tơ ẢNH: TRẦN ĐĂNG
Trung tướng Nguyễn Đôn dịp kỷ niệm 55 năm ngày Khởi nghĩa Ba Tơ ẢNH: TRẦN ĐĂNG
Tính chuyện lớn từ “căng an trí”
Có lẽ thực dân Pháp khi nhận ra sự sai lầm của họ thì đã quá muộn. Từ những năm bốn mươi của thế kỷ trước, Pháp đã chọn nơi đây làm chỗ “an trí”, gọi là căng an trí Ba Tơ, cho những người cộng sản mãn hạn tù từ các nhà lao khét tiếng như Ban Mê Thuột, Kon Tum, Đăk Glei... Dù đã mãn hạn tù, song chính quyền thực dân không thể yên tâm với những “ông đỏ” này nếu để họ trở về làng rồi tiếp tục hoạt động chống lại sự cai trị của thực dân Pháp. Thôi thì mượn nơi rừng thiêng nước độc Ba Tơ để giết chết ý chí đấu tranh của những người cộng sản này.
Dù không phải nhà lao, lại được núp dưới danh nghĩa là “căng an trí” nhưng những người cựu tù ấy đã phải trải qua một cuộc sống vô cùng khắc nghiệt của khí hậu nơi đây cùng với những quy định khá ngặt nghèo của tên cai ngục người Pháp. Những người cựu tù này tự làm tự nuôi nhau. Hằng ngày họ phải điểm danh hai lần mỗi sáng sớm trước khi vào rừng lao động kiếm ăn và mỗi tối sau một ngày vất vả trở về. Những người cộng sản đã tranh thủ kẽ hở của một ngày “tự do” ấy để bàn mưu tính kế. Chi bộ Đảng Cộng sản được thành lập ngay tại căng an trí này để tính kế cho một cuộc chiến đấu dài lâu mà chính quyền thực dân ở Ba Tơ không hề hay biết.
Cần biết rằng, không phải ai mãn hạn tù cũng được Pháp đưa lên Ba Tơ để “an trí” mà có mặt tại vùng rừng này đều là những người cộng sản ưu tú nhất và kiên trung nhất. Tập trung họ về một chỗ, vô tình thực dân Pháp đã tạo điều kiện để những người cộng sản bàn chuyện mưu lược. Cuộc khởi nghĩa ngày 11.3.1945 là kết quả của những cuộc “bàn mưu” ấy.
Cuộc khởi nghĩa của những vị tướng tương lai
Bây giờ, từ quốc lộ 1 ngược quốc lộ 24 lên thị trấn huyện lỵ Ba Tơ chừng 30 phút đi xe máy nhưng 75 năm trước, một liên lạc viên phải “chạy hỏa tốc” suốt đêm chỉ để thông báo cho những người tù ở Ba Tơ một tin vô cùng quan trọng: Nhật đảo chính Pháp đêm 9.3.1945! Tướng Đôn nói rằng, ông và những người đồng chí đã chờ đợi thời khắc ấy từ khi đặt chân lên căng an trí này. “Nếu Nhật chưa hất cẳng Pháp mà ta khởi nghĩa thì sẽ bị quân Pháp ở Ba Tơ đàn áp ngay. Nhưng một khi Nhật đã đảo chính thì lính Pháp ở Ba Tơ như rắn mất đầu. Đó chính là thời cơ thuận lợi nhất vì phát xít Nhật chưa thể tiếp quản Ba Tơ từ tay Pháp”, tướng Đôn phân tích.
Nhận được mật báo quan trọng ấy, ngay trong chiều 11.3.1945, một cuộc mít tinh do những người cộng sản ở Ba Tơ tổ chức. Sau cuộc mít tinh là quần chúng xông vào chiếm đồn huyện lỵ. Tên quan ba của Pháp, quất ngựa chạy thẳng lên Kon Tum. Chính quyền cách mạng được thành lập, 17 tay súng đứng dưới cờ đỏ sao vàng xin thề “Hy sinh vì Tổ quốc”. Đội du kích ấy do Phạm Kiệt làm Đội trưởng, hai Đội phó là Nguyễn Khoách và Nguyễn Đôn.
Từ một đội du kích vài mươi tay súng, đội quân non trẻ ấy nhanh chóng “nhân lên” và gấp rút chuyển về đồng bằng với hàng ngàn thanh niên được tuyển mộ để hình thành nhiều đơn vị quân đội ở hai chiến khu bắc và nam Quảng Ngãi. Chính đội quân này cùng với lực lượng quần chúng đã đứng lên khởi nghĩa vào tháng 8.1945, giành chính quyền về tay nhân dân.
Gần 20 đội viên du kích ngày ấy, sau này trở thành những tướng lĩnh lừng danh của Quân đội Nhân dân VN. Như trung tướng Phạm Kiệt, người mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp không tiếc lời khen ngợi vì đã ủng hộ ông hết mình trong việc kéo pháo ra để “đánh chắc thắng chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ sau chuyến đi thực tế chiến trường trở về. Nhãn quan của một vị tướng từng lãnh đạo Đội du kích Ba Tơ từ trong trứng nước đã góp phần làm nên trận Điện Biên lẫy lừng. Hay như tướng Nguyễn Chánh, Tư lệnh Quân khu 5 trong kháng chiến chống Pháp, người từng làm cho quân Pháp mất ăn mất ngủ suốt “chín năm”. Rồi trung tướng Nguyễn Đôn, trung tướng Trần Quý Hai, thượng tướng Trần Nam Trung..., mỗi người một nhiệm vụ, một vị trí nhưng tất cả đều là những vị tướng thao lược, góp phần làm nên thắng lợi trong hai cuộc chiến tranh giành độc lập và giữ nước của dân tộc ta thế kỷ 20.
Chiến khu xanh
“Nếu chỉ khởi nghĩa và giành chính quyền sớm nhất mà nay dân vẫn cứ khổ nghèo thì thật có lỗi với tiền nhân”, ông Đinh Ngọc Vỹ, Bí thư Huyện ủy Ba Tơ, tâm tình khi được hỏi một câu quen thuộc: “Đời sống của đồng bào Hrê hiện nay thế nào?”.
Ông Vỹ không khoe với khách về việc Ba Tơ đón nhận danh hiệu Anh hùng thời kỳ đổi mới mà lại thông báo rằng, huyện đã dẹp bỏ chính sách “cử tuyển” đối với con em đồng bào dân tộc mà “chơi sòng phẳng” mấy năm nay rồi. Nghĩa là, các em đồng bào Hrê chỉ được ưu tiên khu vực chứ không phải “không thi cũng đậu”. Ấy thế mà “giờ các em tốt nghiệp đại học chính quy nhiều quá, mà biên chế của huyện thì có hạn nên họ “tự biên chế” thôi.
“Tự biên chế” là cách nói hình ảnh về việc những thanh niên người Hrê ở Ba Tơ làm giàu trên chính mảnh đất ra đời của đội du kích năm xưa bằng kiến thức mà họ học được từ các trường đại học. Đi dọc quốc lộ 24 lên Kon Tum bây giờ như lạc vào những cánh rừng keo bạt ngàn, trải dài mút mắt. Rừng cây của người Hrê chiếm phần lớn chứ không phải của đầu nậu dưới xuôi lên trồng, điểm khác biệt của Ba Tơ với nhiều huyện vùng cao Quảng Ngãi là ở chỗ này.
Bây giờ mà đi thống kê bình quân lương thực trên 500 kg/đầu người trong năm để nói về thành quả của Ba Tơ sau 75 năm khởi nghĩa thì quả là ngô nghê. “Bữa nay phải tính là bao nhiêu gia đình ở Ba Tơ có ô tô chứ thống kê lúa với củ mì làm gì!”. Một chủ quán ăn đã nói như thế với tôi khi tôi dò la để biết về mức sống của đồng bào vùng cao ở đây.
Thông tin đó đủ nói lên rằng, sự no ấm đã đến với vùng đất được xem là “chiếc nôi của cách mạng” này.
Theo Trần Đăng (Thanh Niên)

Có thể bạn quan tâm

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

null