Đêm mưu sinh nơi đầm Lâm Bình

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Sau nhiều lần nài nỉ, anh Nguyễn Văn Thuần ở xã Phổ Cường (H.Đức Phổ, Quảng Ngãi) miễn cưỡng cho tôi theo tận mắt chứng kiến việc bắt tôm, cua, cá bằng đăng nò tại đầm Lâm Bình 
 
Kiểm tra đăng trên đầm. ẢNH: TRANG THY
Sương bao phủ tứ bề trong đêm tối. Gió mang hơi nước phả vào mặt lạnh ngắt. Bạn tôi lội bì bõm trong làn nước sâu từ đầu gối đến bụng kéo chiếc ghe và gỡ từng trái nò đổ tôm, cua, cá vào rổ trên ghe. Mẹ anh nhanh tay phân loại để kịp phiên chợ sớm với mớ hải sản tươi rói vừa vớt lên từ đầm Lâm Bình.
Nhọc nhằn trong đêm lạnh
Đầm Lâm Bình có diện tích hơn 200 ha là nơi đánh bắt cá, tôm của hơn 50 hộ dân với nguồn thu mỗi năm khoảng 5 tỉ đồng. Đây còn là nơi chứa nước để bơm tưới cho hàng trăm héc ta ruộng lúa ven đầm.

"Chính quyền xã đang nạo vét đầm nhằm đảm bảo lượng nước bơm tưới 150 ha ruộng lúa. Qua đó, tạo điều kiện cho hải sản sinh sôi và phát triển. Chúng tôi sẽ tiếp tục tuyên truyền người dân không đánh bắt theo kiểu hủy diệt; đồng thời, tăng cường tuần tra và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm", ông Võ Cương, Phó chủ tịch UBND xã Phổ Cường, cho biết.


Sau nhiều lần nài nỉ, anh Nguyễn Văn Thuần ở xã Phổ Cường (H.Đức Phổ, Quảng Ngãi) miễn cưỡng cho tôi theo tận mắt chứng kiến việc bắt tôm, cua, cá bằng đăng nò tại đầm Lâm Bình (thuộc địa phận xã Phổ Cường). Gần 3 giờ sáng, tôi cùng anh và mẹ anh rời nhà khi xóm làng chìm trong đêm tối. Cả ba người lội bộ hơn 1 km đến bờ đầm, những cơn gió phả vào mặt lạnh ngắt.
Vào mùa nắng, ven đầm là nơi trú ngụ của nhiều loài chim. Chúng đến đây kiếm ăn, kết bạn tình rồi làm tổ để duy trì nòi giống. Khi những cơn gió se lạnh cuối thu tràn về, lũ chim vội bay đi tìm nơi ấm áp trú tránh mùa đông lạnh giá.
Tôi phụ anh Thuần đẩy chiếc ghe nhỏ xuống nước, chiếc ghe lướt nhẹ trên mặt nước dần xa bờ. Vừa chèo ghe, anh tranh thủ giảng giải: “Đánh cá bằng đăng nò dùng lưới nhựa đan dày, cột vào hàng cọc tre cắm xuống đáy với chiều dài mỗi giàn từ 15 - 20 m, cao 1,2 m. Phần cuối đặt 2 trái nò bằng khung sắt và lưới nhựa nối liền với lưới chắn. Mỗi giàn tốn từ 2 - 3 triệu đồng. Cá bơi men theo lưới rồi chui vào nò và nếu là cá lớn thì bị nhốt lại, không thể trở ra. Để tôm, cá vào nhiều thì phải luôn di chuyển giàn nò phù hợp với mức nước trong đầm”.
Sau khoảng hai mươi phút, anh xuống nước, kiểm tra giàn đăng nò đầu tiên rồi đổ vào chiếc rổ đan bằng tre mọc trong làng. Chỉ có ít cá nhỏ và tôm đất cùng vài con cua đồng. Mẹ anh nhanh tay phân riêng từng loại tôm đất, cá và cua “để chúng vẫn còn tươi rói khi đến tay người mua”. Anh Thuần lội nước, kéo chiếc ghe sang kiểm tra trái nò bên kia giàn đăng lưới. “Vẫn chỉ có thế”, anh thở dài.
 
Kiểm tra nò trước khi đổ cá vào rổ. ẢNH: TRANG THY
Sau hơn 2 giờ đồng hồ, trên ghe có khoảng 2 kg cua, vài lạng tôm đất cùng mớ cá nhỏ. Bỗng có tiếng quẫy mạnh. Con cá mè nặng hơn 1 kg nằm trong lòng ghe lấp lánh vảy bạc. Và niềm vui sướng khi thêm con cá mè cũng nặng chừng ấy quẫy mạnh trong chiếc nò vừa vớt lên khỏi mặt nước. “Nhiều người cho rằng đánh bắt theo kiểu đăng nò sẽ tận diệt nguồn thủy sản. Thực ra, không phải vậy. Những loài cá chui vào nò lớn lắm cũng chỉ trên dưới ngón tay: cá ngạnh, mại trắng, đỗ dạ, tôm đất và cua. Hiếm lắm mới được cá mè vào nò. Chắc cháu nhẹ vía nên hôm nay mới gặp may như thế. Bữa nay sẽ bán được khoảng 150.000 đồng”, mẹ anh nói.
Anh gọi vọng sang những người đang đội đèn pin trên đầu, lúi húi kiểm tra đăng nò, đổ cá vào ghe: “Hôm nay có nhiều không?”. Vẳng sang tiếng trả lời: “Chẳng được bao nhiêu”. Chúng tôi cùng nhiều người vội trở vào bờ khi trời vừa hửng sáng. Những tiếng xuýt xoa vì lạnh. đường trở về với bao chuyện ruộng mạ, làng quê cùng nỗi lo kiếm tiền trang trải trong cuộc sống, con em đến trường.
Làng bè rớ Lâm Đen
Đầm Lâm Bình (thuở trước gọi là Lâm Đen) tựa chiếc gương khổng lồ soi nền trời xanh thẳm. Khi mưa giăng kín đất trời, nước lũ đổ về khiến những cánh đồng ven đầm chìm trong biển nước mênh mông, từng đàn cá tung tăng bơi lội, tìm nơi tình tự để duy trì giống nòi. Cửa đầm nối với sông Trường và sông Lò Bó trước khi hòa vào dòng nước sông Thoa đổ ra biển cả qua cửa Mỹ Á. Nơi hợp lưu những dòng nước lãng du lượng tôm, cá khá phong phú, là nguồn thực phẩm chủ yếu hiện diện trong bữa cơm của người dân quanh vùng và chuyển đến phiên chợ làng xa.
Những bậc cao niên kể rằng: Thuở trước, nhiều người ở nơi khác đến đây mưu sinh với nghề bè rớ đánh bắt cá, tôm trên đầm. Họ mua những cây tre còn tươi, dùng rựa trảy sạch mắt rồi xếp sát vào nhau. Sau đó, họ đặt 4 - 5 đà ngang rồi dùng dây mây rừng buộc chặt từng cây tre vào đà với chiều rộng từ 3 - 4 m. Những chiếc bè vững chãi, đủ sức ngâm mình trong nước, dãi dầu mưa nắng hàng chục năm được kết nối từ 4 - 5 lớp tre như thế xếp chồng lên nhau.
 
Một góc đầm Lâm Bình yên ả giữa trời chiều. ẢNH: TRANG THY
Phía đằng sau, họ làm một khoang như khoang thuyền là nơi trú ngụ và sinh hoạt cho cả gia đình. Trước mũi bè là giàn rớ khá chắc chắn để đánh bắt cá, tôm. Đêm tối, cả xóm bè rớ treo đèn sáng rực, lấp lóa trên mặt đầm để dẫn dụ cá vào tấm lưới khá lớn cột vào bốn thân tre dài. Mỗi lần hạ và cất rớ bắt cá, tôm kéo dài khoảng mươi phút với sự tham gia của nhiều thành viên trong gia đình nên khung cảnh rất nhộn nhịp.
Thuở ban đầu, dân xóm bè rớ mưu sinh và cư ngụ ngay trên bè neo đậu trong đầm. Họ chỉ lên bờ bán cá, tôm và mua những vật dụng cần thiết cho cuộc sống thường ngày. Lâu dần, tình cảm giữa họ với người dân trên bờ gắn bó mật thiết như anh em họ hàng. Họ chia sẻ mớ cá, tôm tươi rói vừa vớt lên khỏi mặt nước và nhận lại thúng lúa vừa gặt nơi đồng quê, rổ khoai vừa đào trên vùng đất gò đồi. Thương cảm kiếp sống lênh đênh trên đầm nước, quan lại và cư dân bản địa nhường cho họ khu đất khá rộng để lập làng và sẻ chia ruộng lúa nước, đất gò đồi để họ làm kế sinh nhai.
Đời nối tiếp đời, họ an cư trên vùng quê nặng nghĩa ân tình. Xóm bè rớ thuở trước chìm dần vào dĩ vãng, được gợi lại qua chuyện kể của những bậc cao niên. Hậu duệ của họ giờ đã quần tụ bên bờ đầm thành xóm làng trù phú yên vui. Sớm mai, con trẻ tung tăng cắp sách đến trường thay cho những bé thơ quẩn quanh trên chiếc bè thuở trước. Nhiều người đỗ cử nhân, tiến sĩ, góp sức xây dựng quê hương, đất nước, sống phương xa nhưng lòng luôn hướng về quê nhà.
Khung cảnh đầm Lâm Đen khá thơ mộng và yên bình với làng quê, ruộng đồng bao quanh. Phía đông là dãy núi Dâu như tòa thành án ngữ ngăn những trận cuồng phong từ biển, phía tây là dãy núi Làng che chắn bão giông.
Chiều phai nắng. Từng đàn cò trắng thong dong tìm mồi ven bờ đầm tạo nên khung cảnh yên bình nơi đồng quê. Những con chim nước cần mẫn kiếm ăn gợi lên hình ảnh người dân quê chịu thương chịu khó lặn lội mưu sinh trên đồng. Xa xa, ngư dân chèo ghe giăng lưới bắt cá trên mặt đầm. Những âm thanh nhịp nhàng, dồn dập phát ra từ thanh gỗ gõ vào mạn ghe vang vọng trên đầm nước mênh mông.
Trang Thy (Thanh Niên)

Có thể bạn quan tâm

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

null