Cột mốc trong tim - Kỳ 2: Những người giữ mốc

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Chúng tôi đã cùng đứng rất lâu ở bờ đê khu vực cửa sông Bắc Luân, nơi có tấm biển đề “Vành đai biên giới”, xa xa là cột mốc 1378.
Ông Phạm Đức Thuận (bên phải) là bộ đội đặc công được điều từ Lạng Sơn về công tác tại Trà Cổ từ năm 1979.

Ông Phạm Đức Thuận (bên phải) là bộ đội đặc công được điều từ Lạng Sơn về công tác tại Trà Cổ từ năm 1979.

Chỉ tay về phía biển trước mặt, Trung tá Đào Xuân Nguyên, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Trà Cổ cho biết: “Từ cột mốc 1378 đến hết giới điểm 62 hơn 3 km, nhìn hết tầm nhìn là điểm 1 của đường phân định trên Vịnh Bắc Bộ”.

“Từ Trà Cổ rừng dương…”

Trên khu vực cửa sông Bắc Luân có ba cột mốc là 1376, 1377 và 1378. Trong đó, 1378 là cột mốc cuối cùng trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Điểm cuối cùng nơi cửa sông Bắc Luân là giới điểm 62. Vì cột 1378 nằm ở cửa sông Bắc Luân, khi thủy triều dâng lên mốc cách bờ hàng trăm mét, nên việc tuần tra bảo vệ biên giới trên sông, biển “cũng có những khó khăn riêng”. Trung tá Đào Xuân Nguyên kể lại trong quá trình xây dựng mốc 1378 ta đều phải dựa vào con nước, dựa vào thủy triều, lực lượng thi công phải dài ngày hơn, vất vả hơn. Từ chân đế, thủy triều những lúc nước lên to ta không thể xây dựng được chân đế. Lực lượng thi công lại phải đợi lúc thủy triều rút. “Khi đó, bà con giáo xứ Trà Cổ chở xi-măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, từ viên đá nhỏ, từ hạt cát, nước ăn, bữa cơm, nước uống để cho các anh xây dựng cột mốc đúng tiến độ mà cấp trên giao cho,” ông Vũ Đình Phúc, một người dân Trà Cổ nhớ lại.

Cách tấm biển vành đai biên giới không xa, nơi khu vực có mốc giới ghi dòng chữ “Từ Trà Cổ đến mũi Cà Mau 3.260 km” có rất nhiều du khách chụp hình, người dân đạp xe hoặc đi bộ. Khung cảnh rất bình yên. Chỉ những người trong cuộc mới hiểu, để có được sự yên bình, là hành trình đấu tranh âm thầm nhưng quyết liệt của quân và dân trong hành trình giữ đất nơi đầu sóng ngọn gió.

Ông Phạm Đức Thuận là bộ đội đặc công được điều từ Lạng Sơn về công tác tại Trà Cổ từ năm 1979. Đầu những năm 90 thế kỷ trước, ông Thuận được tăng cường làm Bí thư Đảng ủy xã Trà Cổ. Lúc ấy Trà Cổ có vài trăm hộ dân, cả dải đất là những bãi hoang vu. Ông bàn với lãnh đạo huyện làm thế nào vận động thêm người dân về đây lập nghiệp. “Báo cáo xin dân về”, theo cách ông Thuận gọi, đã được ông tự tay thảo và gửi lên lãnh đạo huyện. Đi cùng với chủ trương khuyến khích người dân ở lại. Những năm 1990-1993, Trà Cổ bắt đầu sầm uất dần lên. Dân Trà Cổ làm nghề biển, “Ngày ấy mỗi chuyến bè ra khơi được 2-3 tấn cá là bình thường”, ông Thuận nhớ lại. Lúc Hiệp định phân định cắm mốc biên giới Việt - Trung chưa hoàn thành, dân đi biển căn cứ vào mỏm đá nơi cửa sông để đánh dấu chủ quyền. Quân và dân cùng nhau bảo vệ cửa sông Bắc Luân, bảo vệ ngư trường khai thác truyền thống. Ngày ấy người ở Trà Cổ nào cũng nằm lòng câu nói: “Giữ cho được đất cho mình”. “Một cái cây mới trồng, một hòn đá mang ra biển người dân cũng báo cho chính quyền, cho bộ đội biết”, ông Thuận nhớ lại. “Không phải tự nhiên mà có mốc đấy đâu. Cả một cuộc đấu tranh bền bỉ, kiên gan của quân và dân nơi đầu sóng ngọn gió này đấy”, ông Thuận trầm ngâm.

Đoàn khảo sát cắm mốc biên giới Hà Giang. Ảnh: NHÂN VẬT CUNG CẤP

Đoàn khảo sát cắm mốc biên giới Hà Giang. Ảnh: NHÂN VẬT CUNG CẤP

Cột mốc sống

Câu nói “Giữ cho được đất cho mình” chúng tôi không chỉ được nghe từ người dân Trà Cổ. Suốt dọc dài chặng đường biên giới phía bắc, chúng tôi đã nghe, đã gặp, đã cảm nhận tinh thần ấy trong rất nhiều gương mặt, câu chuyện nơi bản làng biên giới xa xôi đã đi qua. Dù cách diễn đạt khác nhau, ngôn ngữ có thể khác nhau, nhưng vẫn là tinh thần giữ đất kiên cường ấy. Đó là câu nói quả quyết “mình vừa làm nương, vừa canh mốc cùng bộ đội” của “ông già canh mốc” Pờ Xuân Chừ (thôn Tả Ló San, xã Sen Thượng, huyện Mường Nhé, Điện Biên), người tình nguyện làm nương ra canh mốc cùng bộ đội. Nương của ông Chừ nằm ngay cạnh cột mốc 15, nhìn ra dòng suối Tả Ló, qua một dòng suối đó là sang nước bạn. Hay đến tinh thần đấu tranh kiên cường của ông Ly Chứ Sùng, ông già năm xưa dẫn cả 19 hộ cương quyết ở lại bản Séo Lủng (Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang), cạnh vị trí bây giờ là mốc 428 với lời đanh thép: “Đây là đất của chúng tôi”. Bây giờ, ông Sùng vẫn ngày ngày đưa bò đi cày nương trông mốc 428. Và mỗi khi được hỏi, ông vẫn trả lời bằng tiếng H’Mông giản dị: “Mình trồng ở đây vừa là bảo vệ an ninh, rồi mình bảo vệ đất của mình!”.

Ở Hà Giang, dưới chân cột mốc 220 (xã Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì, Hà Giang) có chôn một lọ thủy tinh, trong đó có mảnh giấy ghi tên 25 người – 25 thành viên đã tham gia khảo sát, xây dựng cột mốc. Mốc 220 là cột mốc đơn đầu tiên ở biên giới Hà Giang do Việt Nam phụ trách (mốc chẵn) hoàn thành năm 2002. Ông Triệu Xuân Tiến, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Giang là 1 trong 25 người đó kể lại rằng: “Riêng phần cột hoa cương phải cần tới 18 người khiêng lên độ cao 1.030m”. Mốc đáng nhớ nhất với ông Tiến là mốc 172, nằm trên đỉnh Khấu Xỉn (thôn Ma Lỳ Sán, xã Pà Vầy Sủ, huyện Xín Mần). Hai tháng trời ngày nào cũng phải leo đỉnh đó, ông Tiến kể đã đếm mỗi ngày leo lên đúng 900 bậc đất: “Đi mấy chỗ đó ban đầu cũng sợ, vì lúc ấy chưa dò mìn toàn tuyến, nhưng đi mãi thành quen”. Ngày đó, ông Tiến mới ra trường, chưa vợ, vừa về Sở Xây dựng (năm 2002) nhận công tác ba tháng là vác ba-lô đi nhận nhiệm vụ.

Bà Nguyễn Kim Tuyến, cán bộ Sở Xây dựng Hà Giang, thành viên Ban Chỉ đạo phân giới cắm mốc tỉnh cũng nói cả quá trình xây mốc là những ngày bám biên, ăn dầm nằm dề nhà người dân, để cột mốc được hoàn thành. “Chả có chỗ nào dễ, chả có mốc nào không đáng nhớ, không có mốc nào đi một lần là xong, đều phải đi lại nhiều lần”, bà Tuyến bảo. Một mình bà là thành viên nữ trong Ban Chỉ đạo, cứ thứ hai vác ba-lô đi, cuối tuần về thành phố. Mải miết như thế, quên cả thanh xuân. 20 năm trước, Hà Giang chẳng có mốc nào ô-tô vào được đến nơi. Năm 2024, Hà Giang thành điểm sáng du lịch trong nước và quốc tế, người ta tìm đến những cột mốc nhiều hơn, cũng nhiều người hiểu hơn những năm tháng gian nan để làm nên đường biên Tổ quốc. Nhưng ký ức với người trong cuộc, vẫn luôn luôn rõ nét.

“Chỗ ấy không phải nơi đi chơi đâu. Mình đến là cảm thấy tự hào”, bà Tuyến bảo. Bao đời nay, từng cột mốc, từng tấc đất biên cương tạo dựng, gìn giữ và bảo vệ bởi những người dân như thế.

Đường biên giới vật lý quan trọng, nhưng để vẽ đường biên giới đó, còn một đường biên giới trong tim, với những cột mốc là những con người, những mái nhà, những bờ tre, những con tàu ra khơi, những mảnh nương cheo leo. Cột mốc trong tim mình, Tổ quốc cũng trong tim mình đấy thôi!

Có thể bạn quan tâm

“Thần y trị điểu”

“Thần y trị điểu” ở An Khê

(GLO)- Hàng chục năm qua, căn nhà của anh Hoàng Huy (SN 1992, ở tổ 1, phường An Khê, tỉnh Gia Lai) luôn ríu rít tiếng chim. Ở đó, anh Huy âm thầm cứu chữa cho hàng trăm chú chào mào mắc bệnh từ khắp nơi gửi về.

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng

(GLO)- Một ngôi làng Bahnar không người ở, bị "bỏ quên" giữa núi rừng Tây Nguyên nhưng vẫn hấp dẫn nhiều du khách ghé thăm nhờ vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên và kiến trúc nhà truyền thống. Đó là làng Kon Sơ Lăl cũ (xã Ia Khươl, tỉnh Gia Lai).

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

(GLO)- Sáng nào cũng vậy, khi mặt trời vừa lên khỏi dãy núi Chư A Thai, ông Nguyễn Kim Tống (thôn Thanh Thượng, xã Chư A Thai) lại tự lái ô tô vượt quãng đường gần 40 km sang xã Pờ Tó để kiểm tra từng khu chuồng trại, từng đàn bò.

Rẫy chung ở Đak Đoa

Rẫy chung ở Đak Đoa

(GLO)- Giữa những đồi cà phê vào độ chín rộ ở xã Đak Đoa, có những khu rẫy không thuộc về riêng một hộ nào. Đó là rẫy chung - mảnh đất “không chia phần” của cộng đồng, nơi bà con cùng góp công vun trồng, chăm sóc qua từng mùa, lặng lẽ tích lũy thành nguồn lực chung để lo việc thôn, việc làng.

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Từng đoàn khách dập dìu men theo con đường nhỏ dẫn vào làng gốm Thanh Hà (phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng). Ngôi làng nhỏ gần 500 năm tuổi bên dòng Thu Bồn, nơi các thế hệ truyền nhau gìn giữ làng nghề nổi danh xứ Quảng.

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

(GLO)- Trên vùng đất cát trắng bạc màu, “khỉ ho cò gáy”, nông dân Nguyễn Xuân Ánh (SN 1972, thôn Thuận Phong, xã Hội Sơn) đã bền bỉ dựng nên một trang trại tổng hợp gần 10 ha, bình quân lợi nhuận 500 - 700 triệu đồng/năm.

Bình yên sau những ngày lạc lối

Trở về con đường sáng sau những ngày lạc lối

(GLO)- Thời gian qua, lực lượng Công an tỉnh Gia Lai đã kiên trì bám cơ sở, cùng cấp ủy, chính quyền địa phương, người có uy tín cảm hóa, thức tỉnh những đối tượng từng nghe theo tổ chức phản động FULRO. Nhờ đó, nhiều người đã từ bỏ những việc làm sai trái, quay về với con đường sáng và vòng tay yêu thương của buôn làng.

Tết này, người dân vùng bão lũ có nhà mới

Tết này, người dân vùng bão lũ có nhà mới

(GLO)- Càng gần đến Tết Nguyên đán, những căn nhà mới của người dân vùng bão lũ càng hiện rõ hình hài. Khi những mái ấm được dựng lên từ mồ hôi, công sức của bộ đội và sự chung tay của cộng đồng, mùa xuân cũng kịp về sớm hơn với những gia đình lam lũ từng chịu nhiều mất mát do thiên tai.

Pơtao Apui: Vua Lửa của người Jrai

Pơtao Apui: Vua Lửa của người Jrai

(GLO)- Ở khu vực phía Tây tỉnh, trên vùng đất Chư A Thai, truyền thuyết về Pơtao Apui - Vua Lửa của người Jrai đến nay vẫn còn vang vọng. Điều này không chỉ lưu giữ một di sản độc đáo của Tây Nguyên, mà đang trở thành không gian văn hóa - du lịch.

Mưu sinh bên miệng 'tử thần'

Mưu sinh bên miệng 'tử thần'

Khi màn đêm còn phủ đặc sương mặn, cũng là lúc những chiếc thuyền thúng nhỏ bé bắt đầu nghiêng mình lao vào biển động. Ở các làng chài bãi ngang Quảng Ngãi, mùa mưa bão không phải thời điểm trú ẩn, mà trái lại là “mùa vàng” hiếm hoi.

Ký ức lúa nương thiêng

Ký ức lúa nương thiêng

(GLO)- Trên những triền núi ở xã Vân Canh (tỉnh Gia Lai), đồng bào người Chăm H’roi và Bahnar vẫn gieo trồng lúa nương. Với họ, đây không chỉ là vụ mùa mà quan trọng hơn là cách gìn giữ ký ức của cha ông, hương vị thiêng quý của núi rừng.

null