Chuyện tình thời chiến: Lời hẹn ước gửi đến một tù binh Côn Đảo

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Họ đến với nhau trong bão táp cách mạng. Anh mới ngỏ lời, chị còn chưa dám ước hẹn thì cả hai bị địch bắt. Họ bị đày đọa qua nhiều nhà tù, không ít lần đứng ở ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.

Riêng anh, trong 15 năm tù đày thì có tới 13 năm ở “địa ngục trần gian” Côn Đảo với án tử hình, ba lần chuẩn bị ra pháp trường… Kể từ lúc ngỏ lời, sau 15 năm xa cách, họ mới gặp lại nhau, hạnh phúc trong đám cưới khi đất nước đã thống nhất, giang sơn đã thu về một mối.

Đó chính là câu chuyện tình yêu giữa hai chiến sỹ cách mạng Lê Hồng Tư và Nguyễn Thị Châu.

 

Ông Lê Hồng Tư và bà Nguyễn Thị Châu thời trẻ.
Ông Lê Hồng Tư và bà Nguyễn Thị Châu thời trẻ.

Cô gái mặc áo dài trắng

“Thời thanh xuân đã qua lâu nhưng với tôi, đó vẫn như một giấc mơ, có lúc tưởng như mọi chuyện mới xảy ra ngày hôm qua,” ký ức hiện về như thước phim quay chậm, mở ra trước mắt người chiến sỹ cách mạng năm xưa những câu chuyện bi tráng.

Nói rồi, ông Lê Hồng Tư nghẹn lại. Một khoảng lặng kéo dài… Đó là câu chuyện về số phận cá nhân gắn chặt với vận mệnh dân tộc.

Khoảng năm 1955-1956, Lê Hồng Tư là một thanh niên nghèo từ Bình Chánh lên Sài Gòn vừa học vừa làm đủ thứ nghề kiếm sống (nhân viên điện tín, thợ tiện…). Sau đó, Lê Hồng Tư được tổ chức cách mạng đưa vào các trường học để gây dựng phong trào đấu tranh của học sinh-sinh viên.

Ngày đầu năm học 1956, có một nữ sinh từ Biên Hòa đến trường Văn Lang (Sài Gòn) nhập học. “Tôi bị thu hút bởi vẻ dịu dàng, cách nói năng nhỏ nhẹ, lễ phép và đặc biệt là bộ áo dài trắng thướt tha, mái tóc dài hiền hòa của cô ấy. Đó cũng là ngày đầu tiên tôi gặp Châu,” ông Lê Hồng Tư nhớ lại.

Sau một thời gian chung lớp, sự nhanh nhẹn, chăm chỉ và chân thật, hòa nhã của cô bạn Nguyễn Thị Châu đã thuyết phục được người chiến sỹ cách mạng Lê Hồng Tư và khiến trái tim của chàng thanh niên ấy rung động.

 

Họ đến với nhau trong bão táp cách mạng...
Họ đến với nhau trong bão táp cách mạng...

Cô nữ sinh Nguyễn Thị Châu được lựa chọn để bồi dưỡng trở thành hạt nhân của phong trào đấu tranh chống Mỹ trong học sinh-sinh viên ở các đô thị miền Nam.

“Từ những rung động ban đầu, dần dần, tôi cảm thấy thực sự thương và muốn bảo vệ, che chở cho người con gái có vẻ ngoài nhỏ bé mà nghị lực phi thường ấy,” ông Tư kể.

Sau những đòn roi tra tấn (thọc ống vào cổ họng, đổ nước vôi trộn bột ớt, xà phòng vào miệng…) của kẻ địch, năm 1950, cha của Nguyễn Thị Châu qua đời. Nhờ sự đùm bọc của họ hàng, cô mới có thể tiếp tục đi học.

Cũng vì nhà nghèo nên cô không thể theo học trường Gia Long (mặc dù tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp với số điểm cao nhất tỉnh Biên Hòa khi ấy), phải đổi sang học trường Văn Lang. Trước khi về Sài Gòn, cô hứa với mẹ sẽ cố gắng học để sau này nuôi các em. Một cô gái nhỏ phải gánh vác trách nhiệm lớn của một người đàn ông trụ cột trong gia đình.

“Hơn nữa, thời điểm ấy, chúng ta đã nhận thấy rõ, không thể có hòa bình, thống nhất như vẫn kỳ vọng sau khi ký Hiệp định Geneve năm 1954. Việc nước, việc nhà đều bộn bề những nỗi đau, chất chồng những lo lắng. Bởi thế, cô ấy đã từ chối lời thổ lộ tình cảm của tôi,” ông Tư nhớ lại.

Đó là một ngày cuối năm 1958. Trái tim chàng trai Lê Hồng Tư như thắt lại.

Sau đó, Lê Hồng Tư bị lộ và phải chuyển sang trường khác. Nguyễn Thị Châu tiếp tục ở lại gây dựng phong trào ở trường Văn Lang. Đến năm 1959, họ mới gặp lại nhau và đó cũng là cuộc gặp cuối cùng trước cuộc chia xa kéo dài 15 năm đằng đẵng.

 

Khi biết anh bị tuyên án tử hình, chị tự nhận mình là hôn thê của anh. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Khi biết anh bị tuyên án tử hình, chị tự nhận mình là hôn thê của anh. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Sài Gòn chấn động

Đầu tháng 2-1961, chiến sỹ cách mạng Nguyễn Thị Châu bị địch bắt. Những ngày sau đó, địch giam cầm, tra tấn chị ở những xà lim, cấm cố, ngục tối của nhiều nhà tù: trại Lê Văn Duyệt, quân lao Gia Định, hầm khói Thủ Đức, nhà tù Phú Lợi…

Ngày 8-7-1961, đô thành Sài Gòn chấn động bởi thông tin biệt động đánh bom xe của Đại sứ Hoa Kỳ Frederick Nolting. Đây là chiến công của lực lượng biệt động Ban các sự học sinh-sinh viên Sài Gòn-Gia Định, do chiến sỹ cách mạng Lê Hồng Tư chỉ huy.

Ngay sau đó, lực lượng quân cảnh, cảnh sát… lùng sục khắp nơi để truy bắt nhóm ám sát. Ngày 23-5-1962, tòa án quân sự Sài Gòn đưa nhóm của Lê Hồng Tư ra xét xử. Ngay sáng hôm sau, Lê Hồng Tư cùng ba chiến sỹ khác bị tuyên án tử hình.

Tin tức về vụ xét xử ấy nhanh chóng lan truyền khắp hệ thống lao tù. “Trong ngục tù, nhiều lần tôi tưởng mình ‘chết đi sống lại’ vì đòn roi, sức khỏe kiệt quệ, toàn thân đau đớn. Thế nhưng, nỗi đau thể xác ấy không là gì so với nỗi đau khi nghe tin anh Tư bị tuyên án tử hình. Tôi bàng hoàng tâm can mà gắng gượng để nước mắt không trào ra, tránh để cai ngục nhìn thấy,” bà Châu kể lại, giọng run run.

Trong ngục tối, nữ tù binh sống nỗi đau hòa cùng sự hối tiếc vì chưa nhận lời tỏ tình của người con trai mà mình yêu thương. Chị quyết định nhận lời cầu hôn của anh.

 

Ông Lê Hồng Tư và bà Nguyễn Thị Châu trong ngày cưới.
Ông Lê Hồng Tư và bà Nguyễn Thị Châu trong ngày cưới.

Khi truyền thông tin tới các phòng giam trong trại giam Lê Văn Duyệt, chị nhắn gửi: “Lê Hồng Tư là vị hôn phu của tôi. Nếu có đồng chí nào gặp anh, xin nói với anh ấy rằng: Nguyễn Thị Châu đồng ý!”

Tuy nhiên, do sức ép từ nhiều phía, phán quyết của tòa án quân sự Sài Gòn đối với tử tù Lê Hồng Tư đã không thể thực hiện. Chiến sỹ cách mạng Lê Hồng Tư bị đày ra Côn Đảo.

“Qua những người bạn tù, hai năm sau, khi bị giam ở Côn Đảo, tôi mới biết Châu nhận lời cầu hôn của tôi. Tôi còn nhớ rất rõ, hôm ấy, tôi đã khóc vì thương cô ấy. Khi còn hoạt động cùng nhau, cô ấy không chịu. Vậy mà khi tôi sắp chết, cô ấy lại đồng ý. Tôi không thể cầm lòng, nước mắt cứ trào ra như một đứa con nít,” ông Tư kể.

Ngày 4-5-1975, chiến sỹ cách mạng Lê Hồng Tư trở về từ Côn Đảo. “Hơn ba tháng sau, chúng tôi tổ chức đám cưới. Ngày ấy, cuộc sống còn nhiều khó khăn. Tôi và Châu góp lại cũng chỉ có khoảng 50 đồng, nên đám cưới cũng chỉ có ít bánh kẹo và trà mời khách. Điều thú vị là, quá nửa số khách là khách… không mời, có những người chúng tôi cũng không quen. Thế nhưng, họ biết câu chuyện tình yêu của chúng tôi và chủ động đến chia vui,” ông Tư kể.

An Ngọc/TTXVN

Có thể bạn quan tâm

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Vân Anh năm nay 40 tuổi, sống cách Hoàn Kiếm của Hà Nội chỉ hơn chục cây số. Chị từng là giám đốc điều hành của một công ty có hàng trăm nhân viên, quen với áp lực, nhịp sống gấp gáp và những quyết định lớn nhỏ mỗi ngày.

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

(GLO)- Sáng nào cũng vậy, khi mặt trời vừa lên khỏi dãy núi Chư A Thai, ông Nguyễn Kim Tống (thôn Thanh Thượng, xã Chư A Thai) lại tự lái ô tô vượt quãng đường gần 40 km sang xã Pờ Tó để kiểm tra từng khu chuồng trại, từng đàn bò.

Rẫy chung ở Đak Đoa

Rẫy chung ở Đak Đoa

(GLO)- Giữa những đồi cà phê vào độ chín rộ ở xã Đak Đoa, có những khu rẫy không thuộc về riêng một hộ nào. Đó là rẫy chung - mảnh đất “không chia phần” của cộng đồng, nơi bà con cùng góp công vun trồng, chăm sóc qua từng mùa, lặng lẽ tích lũy thành nguồn lực chung để lo việc thôn, việc làng.

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Từng đoàn khách dập dìu men theo con đường nhỏ dẫn vào làng gốm Thanh Hà (phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng). Ngôi làng nhỏ gần 500 năm tuổi bên dòng Thu Bồn, nơi các thế hệ truyền nhau gìn giữ làng nghề nổi danh xứ Quảng.

Bo bo vào mùa đẫy hạt

Bo bo vào mùa đẫy hạt

(GLO)- Cuối năm, trên những nương rẫy vùng cao xã Krong (tỉnh Gia Lai), bo bo (còn có tên gọi khác là cao lương, lúa miến, mộc mạch) bước vào thời điểm chín rộ, hạt căng tròn, báo hiệu mùa thu hoạch đã đến.

Pơtao Apui: Vua Lửa của người Jrai

Pơtao Apui: Vua Lửa của người Jrai

(GLO)- Ở khu vực phía Tây tỉnh, trên vùng đất Chư A Thai, truyền thuyết về Pơtao Apui - Vua Lửa của người Jrai đến nay vẫn còn vang vọng. Điều này không chỉ lưu giữ một di sản độc đáo của Tây Nguyên, mà đang trở thành không gian văn hóa - du lịch.

Mưu sinh bên miệng 'tử thần'

Mưu sinh bên miệng 'tử thần'

Khi màn đêm còn phủ đặc sương mặn, cũng là lúc những chiếc thuyền thúng nhỏ bé bắt đầu nghiêng mình lao vào biển động. Ở các làng chài bãi ngang Quảng Ngãi, mùa mưa bão không phải thời điểm trú ẩn, mà trái lại là “mùa vàng” hiếm hoi.

Ký ức lúa nương thiêng

Ký ức lúa nương thiêng

(GLO)- Trên những triền núi ở xã Vân Canh (tỉnh Gia Lai), đồng bào người Chăm H’roi và Bahnar vẫn gieo trồng lúa nương. Với họ, đây không chỉ là vụ mùa mà quan trọng hơn là cách gìn giữ ký ức của cha ông, hương vị thiêng quý của núi rừng.

Trở về nẻo thiện

Trở về nẻo thiện

Hiểu được không nơi nào bằng, yên bình như buôn làng, những già làng, người có uy tín ở Gia Lai kiên trì đêm ngày vận động, giải thích cho người dân không nghe theo lời dụ dỗ của “Tin lành Đê Ga”.

Căn nhà của bà Đào bị đổ sập hoàn toàn trước cơn lũ dữ.

Những phận người ở rốn lũ Tuy Phước

(GLO)- Chỉ trong vòng nửa tháng, người dân vùng rốn lũ Tuy Phước phải gồng mình gánh chịu 2 đợt bão lũ lịch sử. Bên cạnh những căn nhà trơ trọi sau lũ, những phận người trắng tay vẫn cố gắng gượng dậy, với hy vọng được dựng lại mái ấm và cuộc sống yên bình.

Chuyện cổ tích của buôn làng

Chuyện cổ tích của buôn làng

(GLO)- Ở làng Tươl Ktu (xã Đak Đoa), khi nhắc đến vợ chồng bác sĩ Nay Blum - H’Nơn, người dân nơi đây luôn kể về họ như kể lại những câu chuyện cổ tích. Với họ, đôi vợ chồng bác sĩ ấy là quà của Yang tặng cho làng Tươh Ktu.

Chiêu trò “việc nhẹ, lương cao”: Vỏ bọc tội phạm mua bán người - Kỳ cuối: Cùng ngăn chặn tội ác

Chiêu trò “việc nhẹ, lương cao”: Vỏ bọc tội phạm mua bán người - Kỳ cuối: Cùng ngăn chặn tội ác

(GLO)- Các cơ quan chức năng, nhất là ngành Công an, chính quyền địa phương là lực lượng chủ công trong phòng, chống mua bán người. Tuy nhiên, toàn xã hội cũng phải cùng vào cuộc và quan trọng nhất là mỗi cá nhân phải chủ động bảo vệ mình bằng cách nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật.

null