500 năm một làng gốm cổ

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Non nửa thiên niên kỷ, đất và bùn trong cuộc thiên di của người Việt ngày mở nước đã hóa từ bụi đất thành huy hoàng. Gần 500 năm cho một làng nghề với biết bao biến thiên dữ lành của thời cuộc vẫn còn đây cát bụi kim cương cho đời, cho người.

Trăm năm đất gốm dưới tay người

Làng gốm cổ Thanh Hà (Hội An, Quảng Nam) nép mình bên dòng sông Thu Bồn với vẻ đẹp mộc mạc xưa cũ. Trong sách sử và trong lời kể tự hào của người làng thì từ những năm đầu thế kỉ XVI, gốm đã hình thành ở vùng đất này. Hành trình 500 năm là hành trình của người đi mở đất có gốc gác từ các vùng Nam Định, Hải Dương và Thanh Hóa, họ mang theo sự thương nhớ quê hương xứ sở đầy nghĩa nặng tình thâm được gửi vào đất này của những dòng người thiên di về phương Nam.

Những nghệ nhân vẫn ngày đêm giữ lửa cho nghề truyền thống tại làng gốm Thanh Hà.

Những nghệ nhân vẫn ngày đêm giữ lửa cho nghề truyền thống tại làng gốm Thanh Hà.

Thời kỳ huy hoàng nhất của làng gốm là vào thế kỷ XVI - XVII, sản phẩm của làng được mệnh danh là “thổ sản quốc gia”, dùng để tiến vua. Để có được danh phận ấy, người thợ gốm đã phải đánh đổi bằng mồ hôi, công sức, cả nước mắt để tạo nên cái tên cho dòng gốm này. Đất lấy về, người thợ phải trộn, xéo, nề, ủ đất cho đến khi nhuyễn mịn như bột bánh mới được. Mọi công đoạn trong quy trình làm gốm đều được nghệ nhân thực hiện tỉ mỉ, từ khâu tạo hình đất sét bằng bàn xoay. Sản phẩm sau khi tạo hình xong để cho se lại, mang ra ngoài nắng phơi hoặc hong nơi góc bếp cho khô mới nung. Lò nung được xếp thật khéo để các sản phẩm vừa đảm bảo không bị chèn ép, vừa tiết kiệm diện tích. Tùy vào sản phẩm mà người thợ có thể nung từ một đến ba ngày.

Ngày trước, sản phẩm chủ yếu của người thợ Thanh Hà là các đồ dùng phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, chum, vại, bình hoa, chậu cảnh, hình thù các con vật... mang nhiều kiểu dáng, màu sắc phong phú và đặc biệt nhẹ hơn so với các sản phẩm cùng loại của những địa phương khác. Có lẽ, một phần nhờ đất sét của dòng sông Thu Bồn bồi đắp và bàn tay khéo léo của người thợ Thanh Hà. Nhưng, có lẽ điều quan trọng nhất, như cái cách mà người làng vẫn bám víu vào mấy trăm năm qua để giữ nghề, ấy là nghề gốm thủ công này là sự kết tinh từ tâm hồn người làm ra nó và thực tế cuộc sống. Nếu không yêu nghề thì không có sản phẩm đẹp. Người và gốm đều phải kiên nhẫn, kiên nhẫn đến phút cuối cùng khi sản phẩm lên bàn xoay, đặt ra đất để hong khô, kiên nhẫn với từng ngọn lửa, biết điều chỉnh để gốm chín vừa đủ, không bị cháy đen và cũng không bị sống sượng. Nghề gốm đặc biệt phải có một trái tim, phải có cảm xúc thật sự khi đôi tay trần chạm vào thớ đất sét dẻo. Và, khi đã dành cho gốm tình yêu thật sự và bằng nỗ lực tiếp cận thì sẽ gìn giữ được nghề và sống được với nghề.

Ở chốn này, từng con đường, những góc sân đến mái ngói đều được làm từ đất nung. Một cảm giác thật bình yên với không gian xanh của hàng cau trước ngõ và sản phẩm gốm vừa mới tạo hình xong đang được phơi nắng trước khi đưa vào lò nung. Theo lời chia sẻ của những nghệ nhân nổi tiếng lâu đời ở Thanh Hà thì để làm ra một sản phẩm đúng chất gốm của làng đòi hỏi kỳ công và tâm huyết rất nhiều. Có lẽ một phần nhờ đất sét của dòng sông Thu Bồn bồi đắp và bàn tay khéo léo của người thợ Thanh Hà. Nếu có một sự so sánh, thì sản phẩm gốm của Thổ Hà (Bắc Giang) được làm từ đất sét xanh, còn ở làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) lại sử dụng sét trắng, gốm Phù Lãng (Bắc Ninh) thì lại từ sét vàng nâu, còn gốm Thanh Hà được lấy từ đất sét nâu dọc sông thu Bồn có độ dẻo và kết dính cao, tạo nên sự độc đáo riêng có của loại gốm xứ này.

Mỗi sản phẩm gốm là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Mỗi sản phẩm gốm là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Ngôi làng nhỏ và bình yên này đã trải qua biết bao thăng trầm, sóng gió. Có những thời kỳ tưởng chừng như nghề gốm nơi đây bị rơi vào lãng quên. Thế nhưng, chính nhờ sự tâm huyết và lòng yêu nghề, những nghệ nhân của làng đã một lần nữa làm “sống lại” nét đẹp cũng như giữ được hồn cốt của làng. Mấy trăm năm của Hội An, gốm Thanh Hà gắn liền với sự hưng thịnh của di sản. Có những giai đoạn tưởng chừng như cái tên gốm Thanh Hà đã không còn tồn tại bởi sức ép của kinh tế thị trường. Có thời điểm, cả làng chỉ còn đúng 5 hộ làm gốm. Người người bỏ làng đi làm việc khác, bỏ lại những đôi mắt già nua thương nhớ gốm cổ bơ vơ bên bàn xoay mỗi ngày. những năm sau 1980 trở đi, thị trường tiêu thụ gốm dân dụng bị bóp nghẹt bởi sự đổ bộ của các đồ dùng bằng nhôm, sắt, nhựa. Do không thể cạnh tranh nổi nên những năm trước 2000, làng nghề gốm Thanh Hà dần chuyển qua nghề làm gạch, ngói âm dương. Nghề này dù thu nhập không cao nhưng vẫn giúp bà con có cái ăn, bám được cái nghề vốn đã được tiền hiền truyền lại qua trăm năm suy biến, hưng thịnh.

Từng có giai đoạn tưởng chừng thất truyền, hiện làng gốm Thanh Hà vẫn giữ được 32 hộ làm gốm chính, trong đó có 5 hộ làm gốm truyền thống, 5 hộ làm gốm mỹ nghệ và 95 thợ gốm gồm thợ làm đất, thợ chuốt, thợ đẩy, thợ lò, lái buôn gốm... Họ đều là những người nắm trong tay kinh nghiệm chế tác, các kiến thức chế tác gốm truyền thống bằng bàn xoay, nung gốm bằng lò. Chính những cá nhân, hộ gia đình này là đối tượng trung tâm, quan trọng để làm cơ sở cho việc ra đời những tác phẩm gốm sứ độc đáo, giữ cái hồn của làng nghề.

Cát bụi huy hoàng

Ở làng gốm thuở ấy, vẫn có những người giữ gốm như cái cách riêng của mình để lưu truyền cho ngày sau. Như cụ bà Nguyễn Thị Được (đã mất), người dành 80 năm cuộc đời cho gốm cũng đã trăn trở rất nhiều để giữ nghề, truyền nghề cho những người trẻ sau này. Dù nghề gốm lắm nhọc nhằn, thế nhưng, tình yêu bà dành cho gốm mấy chục năm nay thì không thay đổi. Hơn 80 năm làm nghề gốm, chưa một ngày lò nung của bà tắt lửa. Ngày nào cũng thế, dù có lúc bận bịu, hay đau ốm nhưng lò nung của bà vẫn luôn đỏ rực. Gia đình bà có đến 6 đời làm gốm. Tài hoa và một đời yêu gốm, bà đã không ngại mang hết những bí quyết đi truyền dạy cho người trong làng, chỉ với mong ước là nghề gốm cổ của làng không bị thất truyền. Những người trong làng được bà chỉ dạy giờ đã là những người thợ giỏi. Bởi, họ biết bà là một trong hai người cuối cùng ở làng này nắm được chế tác và trực tiếp chuốt thành công nhiều mẫu đất và kĩ thuật nung sành. Cả những am hiểu về cách nhận biết trạng thái gốm sành trong khi nung theo kinh nghiệm dân gian bao đời của các thợ gốm tiền bối truyền lại. Bây giờ, con dâu cụ Được là bà Phạm Thị Mỹ Dung - chủ cơ sở gốm Sơn Thúy - là tay thợ nữ nổi tiếng và được phong thợ giỏi nhiều lần ở làng gốm Thanh Hà.

Nhưng rồi, một thách thức khác lại đến khi những lò nung tỏa khói giữa miền di sản. Thời điểm đầu những năm 2000, Hội An bắt đầu phát triển du lịch và được UNESCO đưa vào danh sách Di sản văn hóa nhân loại, ngành công nghiệp không khói yêu cầu phải “xanh”. Trước yêu cầu ấy, sự trăn trở của chính quyền, nỗi lo lắng của những người làm gốm lại bùng lên. Trước yêu cầu đổi mới, các lò nung truyền thống gây ô nhiễm khói bụi đã được thay thế bằng lò điện. Những nghệ nhân được học ngoại ngữ, học làm du lịch, các cơ sở làm gốm được thiết kế lại, vừa là nơi sản xuất, vừa là nơi tham quan học tập. Cứ thế, làng gốm dần vực dậy và hồi sinh ngoạn mục. Có những năm gần đây, khách du lịch lên tới 650.000 người mỗi năm, mang lại doanh thu gần 25 tỷ đồng chỉ với việc bán vé tham quan. Bây giờ, toàn làng nghề có 32 cơ sở duy trì sản xuất. Người làng gốm đã sống được với nghề, ngoài việc bán sản phẩm cho du khách, các cơ sở sản xuất còn được trích lại một phần số tiền vé tham quan du lịch, sử dụng dịch vụ.

Một góc công viên đất nung tại làng gốm Thanh Hà, nơi bảo tồn và lưu giữ các sản phẩm gốm của làng.

Một góc công viên đất nung tại làng gốm Thanh Hà, nơi bảo tồn và lưu giữ các sản phẩm gốm của làng.

Trải qua bao biến động, thăng trầm của lịch sử, nghề truyền thống nơi đây có lúc tưởng như bị lãng quên. Thế nhưng, nhờ vào cái tâm và lòng yêu nghề của những nghệ nhân mà làng nghề vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay, một lần nữa làm sống lại cái đẹp, cái hồn của một làng nghề truyền thống Việt. Bây giờ, nhờ tư duy nhanh nhẹn của những người trẻ yêu và thương miền gốm cổ, họ vừa giữ lấy nghề của cha ông, vừa tận dụng sức mạnh số để tìm hiểu các xu hướng mới, mở kênh mua bán sản phẩm trên mạng xã hội, trên sàn thương mại điện tử.

Người làng gốm vẫn còn, ngày ngày những đôi tay vẫn còn chạm đến những khối đất sét để tạo hình hài cho đất. Không gì bền bằng gốm, những sản phẩm đã sống đủ các hành trình từ đất qua lửa. Và rồi, gốm Thanh Hà đón nhận niềm vui lớn khi chính thức được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trao danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào tháng 7 năm 2022.

Những tinh hoa của đất được tạo tác từ bàn tay người thợ gốm.

Những tinh hoa của đất được tạo tác từ bàn tay người thợ gốm.

Ông Lê Văn Xê, Trưởng ban quản lý làng nghề gốm Thanh Hà tự bạch: “Hơn 10 năm trước, gốm rơi vào tình trạng không có đầu ra, nhiều người đã tìm hướng đi khác. Những năm gần đây khi du lịch phát triển, gốm sống trở lại, cả làng nối lại với nghề. Chính quyền địa phương ở đây cũng đã tạo nhiều điều kiện để làng nghề phát triển. Điều này cũng ít nhiều làm hài lòng những người yêu nghề trong làng. Sản phẩm ở Thanh Hà làm ra luôn thu hút du khách địa phương, trong nước và ngoài nước, bởi có đặc điểm riêng, không giống ở bất cứ nơi nào. Nhìn cách những người trẻ hăng say và nhiệt huyết với nghề, lớp người cao tuổi cũng thấy an lòng và phấn khởi trước tương lai nghề truyền thống của cha ông”.

Gốm không chỉ đưa đến cho người dùng ở quanh vùng mà đã đi xa, rất xa ở nước ngoài. Đó không chỉ là món quà của xứ này, mà còn là hồn đất, hồn người gói trong gốm cổ theo tay người đi đến những miền xa.

Công viên đất nung tại làng gốm Thanh Hà có diện tích lên đến 6.000 m2, là công viên gốm lớn nhất Việt Nam hiện nay. Đây là nơi bảo tồn và lưu giữ các sản phẩm gốm của làng, đồng thời quảng bá gốm Việt đến với bạn bè quốc tế. Công viên gốm Thanh Hà có khu vực chợ để trao đổi, mua bán các sản phẩm về gốm, triển lãm và trưng bày các sản phẩm gốm độc đáo do chính các nghệ nhân làm ra. Đặc biệt nhất là khu cả “Thế giới thu nhỏ” thể hiện các sản phẩm gốm tinh xảo, tái hiện cực kỳ sinh động qua các công trình kiến trúc của Việt Nam và tất cả các kỳ quan của thế giới chỉ với sản phẩm gốm.

Có thể bạn quan tâm

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

(GLO)- Khi tà đạo “Hà Mòn” tan biến, trên những buôn làng ở xã Hra, xã Đak Pơ, niềm tin làm giàu đang được gieo lại từ chính mảnh đất cũ. Nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng cùng ý chí vươn lên của người dân, những vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ. 

Xây thế trận lòng dân từ sâu rễ bền gốc nơi tà đạo Hà Mòn đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo Hà Mòn đi qua - Kỳ 2: Tỉnh ngộ sau chuỗi ngày tối tăm

(GLO)- Phía sau những lời hứa hẹn mơ hồ về một cuộc sống sung túc không cần lao động. Ở một số buôn làng, những mái nhà vốn yên ấm bị xáo trộn. Chỉ khi cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng kiên trì vận động, nhiều người mới dần nhận ra sự thật, tỉnh ngộ và quay về với cuộc sống bình thường.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

(GLO)- Có một thời, ở những ngôi làng Bahnar như Kret Krot (xã Hra), Kuk Kôn, Kuk Đak (xã Đak Pơ), nhịp sống bình yên bỗng chùng xuống. Tà đạo Hà Mòn như một “cơn gió độc” quét qua, để lại phía sau sự im ắng nặng nề, len lỏi vào từng mái nhà, khiến buôn làng trở nên khép kín, u ám.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

(GLO)- Ẩn giữa rừng sâu xã Krong (tỉnh Gia Lai), những căn lán nhỏ được dựng ngay dưới gốc giáng hương cổ thụ. Đó là nơi lực lượng bảo vệ rừng ăn ngủ, thay nhau canh giữ từng cây hương quý - những “báu vật” của đại ngàn.

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí bầu cử nơi biên giới

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí ngày hội lớn của toàn dân nơi biên giới

(GLO)- Những ngày cận kề cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Mơ (tỉnh Gia Lai) phối hợp với chính quyền, già làng, người uy tín đến từng làng tuyên truyền, vận động bà con sẵn sàng tham gia ngày hội lớn của toàn dân.

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Khi phố xá đã lên đèn và nhiều gia đình yên giấc, trên những tuyến đường thuộc xã Long Hải (TPHCM) vẫn có những ánh đèn xe lặng lẽ di chuyển. Đó là ánh đèn của Đội SOS Long Hải - nhóm thanh niên tình nguyện đã suốt 7 năm qua hỗ trợ người dân gặp sự cố giao thông trong đêm.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

(GLO)- “Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng”.

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng

(GLO)- Một ngôi làng Bahnar không người ở, bị "bỏ quên" giữa núi rừng Tây Nguyên nhưng vẫn hấp dẫn nhiều du khách ghé thăm nhờ vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên và kiến trúc nhà truyền thống. Đó là làng Kon Sơ Lăl cũ (xã Ia Khươl, tỉnh Gia Lai).

null