Ngày 8-10, tại Hà Nội, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) cùng các đối tác quốc tế tổ chức Diễn đàn “Rừng trồng keo bền vững hướng tới ngành gỗ giá trị cao”. Diễn đàn diễn ra trong khuôn khổ Hội thảo quốc tế IUFRO Acacia 2026, tập trung vào hướng nâng cao giá trị cây keo và phát triển rừng trồng bền vững.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến cuối năm 2025, Việt Nam có gần 15 triệu ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt hơn 42%. Riêng rừng keo khoảng 2,5 triệu ha, chiếm khoảng 60% diện tích rừng trồng sản xuất, trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành chế biến gỗ và gắn với sinh kế của khoảng 1,5 triệu hộ gia đình.
Đáng chú ý, Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu ha trong tổng số khoảng 3,5 triệu ha rừng keo trên toàn thế giới. Tuy nhiên, nghịch lý nằm ở chỗ phần lớn nguồn nguyên liệu này chưa được khai thác ở những phân khúc có giá trị cao. Khoảng 80% sản lượng gỗ keo hiện được sử dụng để sản xuất dăm gỗ và viên nén, trong khi tỷ lệ gỗ lớn phục vụ đồ mộc và chế biến sâu còn hạn chế.
Theo các chuyên gia, một nguyên nhân quan trọng là phần lớn rừng keo được trồng theo chu kỳ ngắn. Gỗ khai thác khi còn nhỏ chủ yếu phù hợp với sản xuất dăm, viên nén, thay vì cung cấp nguyên liệu cho đồ nội thất, ván và các sản phẩm chế biến sâu.
Tại một diễn đàn về nguyên liệu gỗ hồi tháng 7, ông Phạm Đình Thắng - Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Triệu Thái Sơn- cho biết: Cùng khoảng 3 tấn keo tươi, nếu xuất khẩu dưới dạng dăm gỗ chỉ tạo giá trị khoảng 3 triệu đồng; chế biến thành viên nén đạt khoảng 6 triệu đồng, trong khi đưa vào sản xuất ván ép và đồ nội thất có thể tạo giá trị trên 20 triệu đồng.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị cho rằng phát triển rừng keo cần thay đổi tư duy, từ chú trọng diện tích và sản lượng sang nâng năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, khả năng chống chịu và tính bền vững. Bộ sẽ ưu tiên nghiên cứu, chọn tạo giống có năng suất, chất lượng gỗ và khả năng chống chịu tốt; hoàn thiện kỹ thuật trồng, chăm sóc, chuyển hóa rừng sản xuất gỗ lớn; đồng thời thúc đẩy chuyển giao kỹ thuật cho các chủ rừng nhỏ.
Theo ông Nguyễn Quốc Khanh - Chủ tịch VIFOREST, muốn chuyển sang rừng gỗ lớn không thể chỉ vận động người dân kéo dài chu kỳ khai thác. Người trồng rừng cần có mô hình kinh tế đủ hấp dẫn để chấp nhận chờ lâu hơn.
Điều đó đòi hỏi tín dụng phù hợp với chu kỳ dài, bảo hiểm rừng, liên kết lâu dài giữa doanh nghiệp và chủ rừng, chứng chỉ quản lý rừng bền vững, cơ chế carbon và đặc biệt là thị trường sẵn sàng trả giá cao hơn cho gỗ lớn.
Trong khi đó, ngành gỗ cũng phải thay đổi ở khâu cuối chuỗi. Thay vì chủ yếu xuất dăm, nguồn gỗ keo cần được đưa vào sản xuất veneer, plywood, MDF, ván dăm, gỗ kỹ thuật, gỗ ghép, cấu kiện và đồ nội thất có hàm lượng thiết kế cao.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam đang hướng tới 1 triệu ha rừng trồng sản xuất gỗ lớn vào năm 2030. Cùng với đó là nâng cao chất lượng giống, quản lý rừng bền vững, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về tính hợp pháp, môi trường và phát triển bền vững của thị trường quốc tế.