Vị linh mục hiến kế chống Pháp

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- “Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng”.

Đấy là kiến nghị của linh mục Đặng Đức Tuấn trình lên vua Tự Đức. Khi tiếp cận với Châu bản triều Nguyễn đang được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1, tôi may mắn tìm thấy nhiều chứng cứ xác thực về nhân vật lịch sử đặc biệt này.

Linh mục Đặng Đức Tuấn (1806-1874) người làng Qui Hòa, xã Hoài Châu Bắc, huyện Hoài Nhơn, Bình Định (nay là phường Hoài Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai). Năm 19 tuổi, ông đã dự khoa thi Hương tại Thừa Thiên nhưng hỏng thi. Ông bỏ giấc mộng khoa cử, trở về quê dạy học.

Sau đó ông sang Chủng viện Penang, Mã Lai, dạy Hán văn. Ở môi trường mới, ông được tiếp cận với văn hóa Đông Tây, học hỏi Pháp ngữ, tiếng La tinh và được đào tạo thành linh mục.

Ông trở về nước và được truyền chức linh mục tại Tòa Giám mục Gò Thị, làm việc tại Tư Ngãi (Quảng Ngãi). Và một điều thiết nghĩ cần phải nói ngay - linh mục Đặng Đức Tuấn là một người có lòng yêu nước nồng nàn.

hien-ke-chong-phap-3.jpg
Khu mộ linh mục Đặng Đức Tuấn. Ảnh: N.P.K

Nổi giận thấu trời

Dưới thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, việc cấm đạo nhìn chung khá gay gắt. Khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng vào bán đảo Sơn Trà thì người Công giáo càng bị nghi ngờ tiếp tay cho giặc. Đại Nam thực lục ghi lại nhiều sự kiện trong năm 1859 liên quan đến dân đạo.

Vua Tự Đức giao các tỉnh phải xem xét những dân đạo, tên nào đầu têu thì giam giữ, người lừng chừng thì chia ghép vào ở các xã, thôn không có người theo đạo, gọi là “phân sáp”.

Kẻ nào có mưu toan khác thì sức cho binh dân bắt nộp. Tài sản của kẻ phạm tội thì đem phân chia. Ai bắt được đạo trưởng thì trọng thưởng. “Dụ này đến nơi thì thi hành lập tức như sét đánh nhanh không kịp bịt tai”.

Chủ trương này sang các năm 1860, 1861 càng gay gắt, khốc liệt hơn. Nhiều người bị bắt, bị giết, nhiều nhà thờ bị phá hủy, tài sản của tín đồ bị tịch thu… Linh mục Đặng Đức Tuấn phải lẩn trốn.

Trong thời gian đó, đau xót nhìn thế cuộc, suy ngẫm thấu đáo rồi ông soạn thảo 2 bản điều trần là Hoành mao hiến bình Tây sách và Minh đạo bình Tây sách, chờ dịp dâng lên triều đình.

Đầu tháng 12-1861, ông bị bắt tại Nga Mân, Mộ Đức. Khám xét hành lý thấy 2 bản điều trần nên ông được đưa lên tỉnh. Bản điều trần thứ nhất, ông bày tỏ tấm lòng trung hiếu của mình “đối với kẻ thù của vua, của cha thì tôi con quyết không đội trời chung, phải đền đáp đến chết mới hết”.

Ông viết: Hiện nay giặc Pháp hoành hành, trước đã vô cớ gây mối binh đao, sau lại ngang ngược không chút kiêng kỵ... “Hành động như thế thật rất đáng ghét, đáng giết. Phàm người có bụng trung quân, ái quốc đều nổi giận thấu trời, dù gan não phơi bày lầy đất cũng chẳng ân hận”.

Ông bày tỏ thái độ “Triều đình quyết không giảng hòa với giặc, thật là một sách lược đúng đắn” và “xin phép điều trần sách lược chế ngự, cơ mưu chiến thắng lũ mọi Tây”.

Ông hiến kế, muốn trục xuất chúng ra biển, thu hồi lại Gia Định thì trước hết ta phải đặc biệt cải cách quân đội, luyện tập bắn súng, làm thuốc thật mãnh liệt, nhạy nổ.

Chính thể vốn có độc lập

Bản điều trần thứ hai, ông viết: Giặc rất mạnh nhưng quân ta đều là binh lính hưởng thái bình đã lâu, không quen chiến trận… Nhà đương quyền
không nghĩ quân ta yếu, quân địch mạnh, thế khó chống đỡ mà đổ lỗi cho người theo đạo Gia tô làm nội ứng cho giặc. “Ấy chính là cách bên trong gây rối loạn, khiến người ngoài càng thêm nhiễu nhương”.

Sau khi phân tích thực trạng, ông tha thiết đề nghị Hoàng thượng mở lượng hiếu sinh, phóng thích những người theo đạo bị giam cầm, “để nhân sự được an hòa, mọi nhiễu nhương rắc rối tiêu tan như băng tuyết”.

Ông đề xuất và cam kết rất quyết liệt: Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng.

Đến Kinh đô Huế, Thượng thư Bộ Binh Lâm Duy Hiệp và Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản được giao tra vấn ông về đạo Công giáo và về giặc Tây. Bằng tấm lòng trong sáng, lòng yêu nước và tri thức, ông đã thuyết phục được hai vị đại quan.

Ở Huế, linh mục viết thêm bản điều trần thứ ba và bản điều trần thứ tư trình bày về “lý lẽ cật vấn lũ mọi Tây”. Ông viết: “Đất nước riêng biệt, phong tục khác nhau, chính thể các đời vốn có độc lập.

Đạo giáo Thiên Chúa cấm hay không cấm, tha hay không tha đều thuộc quyền vua. Nước Tây há có thể đem quân uy hiếp, ép buộc bỏ lệnh cấm đạo được chăng?!”. Ông dùng lý lẽ sắc bén về chủ quyền quốc gia, về lẽ công bằng, bình đẳng để đấu tranh.

Ông còn thỉnh cầu nhà vua cho những người có đạo còn bị giam giữ, từ 20-40 tuổi đều được làm lính, quyết chiến, thể hiện lòng trung quân, kính Chúa.

Bản điều trần thứ năm, trả lời câu hỏi về tình thế giặc. Bản điều trần thứ sáu ông trả lời về giáo lý Gia tô, ông đưa ra quan niệm, người Công giáo phải thảo kính cha mẹ, cha mẹ có ba đấng, một là quân vương, hai là triều đình và ba là cha mẹ sinh ra mình. Như vậy ông đề cao Tổ quốc, Tổ quốc trên hết.

“Giúp trẫm giang sơn còn trọn vẹn”

Lần theo những dữ liệu về linh mục Đặng Đức Tuấn, tôi đến Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 và may mắn thay Châu bản triều Nguyễn đã cung cấp những chứng cứ xác thực về nhân vật lịch sử đặc biệt này.

hien-ke-chong-phap-1.jpg
Tài liệu về linh mục Đặng Đức Tuấn (1806-1874) tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1. Ảnh: N.P.K

Tài liệu thứ nhất thời vua Tự Đức, tập 375, tờ 137 với đề tài là “Lời khai của cha đạo”. Nội dung là Quảng Ngãi mật trình về việc họ bắt được Cha đạo Đặng Đức Tuấn. Tài liệu này cho thấy thông tin về việc linh mục Đặng Đức Tuấn bị bắt khi có mang theo hai bản điều trần, nên được đưa về Kinh đô là chính xác.

Tài liệu thứ hai cũng thời vua Tự Đức, tập 316, tờ 89 với nội dung Đặng Đức Tuấn tâu bày: Lần này, nghị hòa ở Gia Định, ngu thần tuy có đi theo nhưng không có quyền nói, cho nên không thi hành được cái chí của mình. Hiện nay, Hòa ước đã định, triều đình tuy có chút khoan thư việc lo lắng đến phương Nam, mà mười hai điều khoản đều là điều xin, điều ước của nước [Pháp] đó.

Trong đó, có một hai điều khoản xét về lý thực sự chưa ổn thỏa. Nay nguyện dựa vào uy quyền của triều đình đến nước đó hiệp sức với Lâm đại nhân [Lâm Duy Thiếp] tùy tình thế lập ngôn, cơ hội bàn sự việc. Phàm việc gì nên trình bày, biện luận quyết cùng nói cho hết lời. Vạn nhất hoặc có tý chút lợi ích cho quốc gia cũng là báo đáp được sự bổ dụng.

Những bản điều trần đó khiến vua Tự Đức rất hài lòng, tin tưởng, nhiều lần gặp gỡ, bàn bạc và cử ông tháp tùng sứ bộ Phan Thanh Giản vào Gia Định thương nghị với Pháp.

Từ thân phận tử tội ông đã được trọng dụng, khâm mệnh tham gia sứ bộ với vai trò thông ngôn, nhiều lần được trưởng đoàn hỏi ý kiến, vì thế người đương thời gọi ông là “Cha Khâm”.

Khi phía Pháp đòi hỏi quá nhiều, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp hỏi ý kiến thì ông thể hiện rõ quan điểm đòi bồi thường thì chịu nhưng nhất quyết không giao tỉnh thành cho chúng.

Ngày linh mục trở về quê, vua Tự Đức lưu luyến ban bài thơ tiễn chân. Tác giả Nguyễn Văn Thoa dịch ý: Cùng khanh hội ngộ bấy lâu nay/Giã biệt xui lòng thấy xót thay/Giúp trẫm giang sơn còn trọn vẹn/Nhờ ai trung ái với ta đây/Điều trần tuyệt diệu không còn giấu/Tây quỷ âm mưu đã lộ bày/Mai mốt triều đình như có việc/Chiếu rồng sẽ gửi cửa then cây.

Quả thật, vua Tự Đức còn nhiều lần triệu linh mục về Huế để bàn nhân dịp cử Bùi Viện đi Nhật, Nguyễn Trường Tộ đi Pháp (1866), Nguyễn Tư Giản đi Trung Quốc (1868).

hien-ke-chong-phap-2.jpg
Đường Đặng Đức Tuấn ở Huế. Ảnh: N.P.K

Hiện nay, TP. Huế có đường Đặng Đức Tuấn để hậu thế tri ân vị linh mục uyên bác, giàu lòng yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm với những kiến nghị đầy tâm huyết và trí tuệ.

Có thể bạn quan tâm

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

null