Theo dấu trà Shan: Thất thế trên sân nhà

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Những năm 1990, trà Shan cổ thụ Việt đã xuất hiện trên thị trường Đài Loan, Hồng Kông, nhưng nếu muốn bán được giá phải che giấu “thân phận” Việt.
 
Thu hoạch trà Shan tuyết cổ thụ. ẢNH: NGUYỄN ĐÌNH
Trà Shan tuyết cổ thụ cũng có tại các nước Trung Quốc, Myanmar, Thái, Lào, nhưng diện tích trà Shan hoang dã cổ thụ thì Việt Nam đứng đầu. Đặc biệt, Việt Nam hiện còn các vùng trà nguyên sinh (chưa từng được khai thác), thân trà cao 30 - 40 m, mọc dày trong các tán rừng thuộc Vườn quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai, Lai Châu), Xuân Sơn (Phú Thọ)...
Câu chuyện “trà biên cương”
Vùng trà Shan cổ thụ Việt Nam phát triển chủ yếu ở khu vực biên giới giáp Trung Quốc qua 4 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang với tổng chiều dài 788,86 km. Nguyên liệu trà Shan từ lâu không thuận hướng về xuôi, mà theo đường biên xuất sang Trung Quốc. Phần vì đường sá về xuôi không thuận tiện, phần vì lối chế biến trà của đồng bào Dao, H’Mông kỹ thuật thô sơ, hong héo, vò nhẹ rồi đem phơi, trà tự lên men, pha nước đỏ quạch. Thị hiếu người xuôi thấy trà nước đỏ, cho rằng hỏng, không mấy ai dùng. Trà Shan cổ thụ thất thế toàn tập trên sân nhà, từ cả cự ly, tốc độ đến kỹ thuật.
 
Mary Jane Hua, chuyên gia trà người Úc gốc Việt, trong chuyến khảo sát các vùng trà cổ thụ ở Việt Nam năm 2019. ẢNH: NGUYỄN ĐÌNH
Cách đây gần 30 năm, thương gia Quách Minh Huy (người Cao Hùng, Đài Loan) thường đến vùng Vân Nam mua trà Phổ Nhĩ (một trong tứ đại danh trà của Trung Quốc) và tình cờ phát hiện một dòng trà có nội chất kỳ lạ, nổi trội hơn các sản phẩm khác. Tìm hiểu kỹ, ông mới biết nguồn nguyên liệu ấy đến từ Tây Bắc, Việt Nam. Thế là ông Huy lặn lội đến Hà Giang và phát hiện nhiều vùng trà Shan cổ thụ còn hoang sơ, ít được khai thác.
Ông bắt đầu thu mua trà đã qua chế biến từ dân bản (chủ yếu ở hai vùng Cao Bồ và Quản Bạ, Hà Giang) đem vào Sài Gòn ép thành từng bánh rồi xuất khẩu sang Đài Loan.
Ông Huy kể lại, những bánh trà đầu tiên có nguyên liệu từ Cao Bồ ép bánh năm 1996, sang xứ Đài, người sưu tầm trà Phổ Nhĩ thử qua đều ngạc nhiên, cứ nghĩ đó phải là danh trà ở Dị Vũ, Mãnh Hải hay Băng Đảo... vùng Phổ Nhĩ. Khi nói đó là trà Việt Nam, dân trà bán tín bán nghi, không ai nghĩ trà Việt đẳng cấp như vậy.
Từ sau đó, nhiều thương lái trà ép bánh ở Cao Hùng thu mua sản phẩm Việt Nam nhưng không dùng nguyên gốc xuất xứ, mà chỉ gọi chung chung là “trà biên cương”. Nguyên do, nếu để xuất xứ trà Việt, không chỉ Đài Loan, mà cả thị trường Hồng Kông khi ấy (đang sốt trà ép bánh) cũng chê, không thèm thử chứ đừng nói đến chuyện mua về làm thương mại, bởi không ai nghĩ Việt Nam có trà cổ thụ. Trà Shan cổ thụ Việt một lần thất thế trên sân khách.
Trung Quốc “lùng” trà Shan Việt
Theo số liệu từ Hiệp hội Trà Việt Nam tháng 12.2019, trà cổ thụ Shan tuyết mọc hoang dã bạt ngàn từ các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên trên diện tích 8.508,5 ha, nhưng hầu hết sản phẩm đều xuất qua thị trường Trung Quốc. Vụ trà xuân bao giờ thương lái Trung Quốc cũng kéo sang càn quét khắp các địa bàn.
Gặp gỡ những nhà sản xuất trà Shan cổ thụ khắp vùng Hà Giang, nhận định chung là hầu hết máy móc, kỹ thuật làm trà, kể cả đầu ra sản phẩm đều lệ thuộc nguồn Trung Quốc. Mỗi vụ trà, người Trung Quốc sang tận xưởng, cầm tay chỉ việc. Hết vụ, họ mang trà về, người khác đến lại chỉ cách làm khác.
Tham dự các hội chợ trà lớn của Trung Quốc như Hạ Môn (Phúc Kiến) và Thâm Quyến (Quảng Đông), các doanh nghiệp trà Shan cổ thụ Việt Nam mang hàng đến đâu, bán hết đến đấy, ngay sau đó thương lái đều muốn tiếp cận vùng trà. Với chiêu đi tham quan, nhưng tìm cách tận thu nguồn nguyên liệu bằng mọi giá (hái cả lá già, dặn dân đốn đau để trà mau đâm chồi, khiến cây dần suy yếu), đem về nước, chế biến thành trà Phổ Nhĩ cao cấp, dĩ nhiên với nhãn mác không còn tí gì xuất xứ từ Việt Nam.
TS Nguyễn Quốc Vọng, người vừa thực hiện dự án nghiên cứu hoạt chất trong trà Shan cổ thụ ở Việt Nam, cho biết trà Tủa Chùa (Điện Biên) đặc biệt bởi amino acids, theanine, catechin, chất chát tannin... đều có chỉ số cao nhất so với tất cả các vùng trà khác ở Việt Nam. Nổi bật có catechin cao gấp 20 lần so với trà trồng công nghiệp. Vị ngọt umani của trà Tủa Chùa gồm hai thành phần axit amin và theanine cũng chiếm tỷ lệ cao nhất, gấp đôi với trà công nghiệp Mộc Châu và gấp ba trà Phú Thọ.
 
Các bánh trà tại chợ trà Cao Hùng, nguyên liệu Shan cổ thụ Việt nhưng không có chút thông tin gì về nơi xuất xứ. ẢNH: NGUYỄN ĐÌNH
Nội chất trà Tủa Chùa thực sự giá trị nên các nhà sản xuất trà Phổ Nhĩ từ Vân Nam, Trung Quốc dùng mọi cách sở hữu được nguyên liệu quý hiếm này. Trà phơi khi đem ép bánh, càng để lâu, nội chất trong trà tự biến chuyển nên sản phẩm được sánh ngang giá trị với vàng. Tiếc bấy lâu nay, nguồn nguyên liệu ấy đang bị bỏ quên.
Biết giá trị của trà Tủa Chùa, các thương lái Trung Quốc sau thời gian ngắn càn quét, thu gom trà tối đa bị địa phương phát hiện mời ra khỏi địa bàn. Sau đó, họ âm thầm thuê người Lào sang tiếp tục thu mua, sơ chế trà rồi chuyển về Trung Quốc.
Thương lái Trung Quốc “say máu” với trà Tủa Chùa, sẵn sàng thu mua bằng mọi giá do thứ nguyên liệu này nếu làm thành phẩm trà xanh bán ở Việt Nam rất khó tiêu thụ (vì độ chát đắng quá mạnh), trong khi làm trà phơi (hái, xào nhẹ, vò, đem phơi, nguyên liệu làm trà Phổ Nhĩ ép bánh danh tiếng) vừa dễ cho bà con thu hái, sản xuất, lại tiện cho thương lái thu gom, mang về chế biến. Trà phơi Tủa Chùa cứ thế âm thầm xuất qua đường tiểu ngạch.
Đến các bản có nhiều trà cổ thụ ở Tủa Chùa như Xín Chải, Páo Tỉnh Làng..., việc sản xuất trà vẫn đều đặn, giá thị trường hiện ở mức 40.000 đồng/kg trà tươi. Giàng A Dè, Trưởng thôn Páo Tỉnh Làng, cho biết: “Làm trà cho Trung Quốc, chỉ cần hái, cho héo nhẹ đem phơi là họ mua. Làm trà cho người Việt, học được nhiều kỹ thuật hơn, có máy móc phụ trợ. Cả thôn mình có khoảng 560 cây cổ thụ, mỗi lần hái một cây được cỡ 25 kg”. (còn tiếp)
Nguyễn Đình (Thanh Niên)

Có thể bạn quan tâm

Giữ buôn Jứ!

Buôn Jứ: Hành trình an cư sau những mùa lũ

(GLO)- Mỗi khi mùa mưa đến, người dân buôn Jứ (xã Ia Tul, tỉnh Gia Lai) lại thấp thỏm nhìn con nước sông Ba dâng lên nhanh. Với họ, lũ là nỗi ám ảnh kéo dài qua nhiều thế hệ. Và rồi, sau những trận ngập lịch sử, hàng trăm hộ dân buôn Jứ đang sáng lên hy vọng về một cuộc sống bình yên, tốt đẹp hơn.

Thanh âm buôn cổ

Thanh âm buôn cổ

Người dân buôn cổ M’Liêng vẫn còn gìn giữ nghề thủ công truyền thống cùng nhiều hiện vật cổ. Khi buôn có lễ hội, âm thanh cồng chiêng vang lên như một niềm tự hào của người dân nơi đây. Buôn cổ này may mắn sở hữu một khu rừng thiêng.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Tình yêu kháng chiến - hạnh phúc trọn đời

Tình yêu kháng chiến - hạnh phúc trọn đời

(GLO)- Chiến tranh dẫu khốc liệt song từ sự đồng hành của những người cùng chung lý tưởng cách mạng, tình yêu đã đơm hoa kết trái, trở thành điểm tựa để người lính vững vàng giữa bom đạn, vun đắp nên hạnh phúc bền chặt sau ngày đất nước thống nhất.

Viết lại đời mình bằng việc tử tế

Viết lại đời mình bằng việc tử tế

(GLO)- Ít ai biết, sau dáng vẻ điềm đạm, ít nói của người đàn ông đã bước qua tuổi lục tuần - Kpă Dõ, Trưởng ban Công tác Mặt trận làng Lê Ngol (xã Bờ Ngoong) - là một quá khứ nhiều day dứt. Hai mươi lăm năm trước, vì nhẹ dạ và thiếu hiểu biết, ông bị lôi kéo vào con đường lầm lỡ.

Tìm các anh giữa cỏ non Thành cổ

Tìm các anh giữa cỏ non Thành cổ

Sáng 2.4 vừa qua, tại di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị (tỉnh Quảng Trị), Ban Chỉ đạo quốc gia tổ chức lễ phát động "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

null