Người cộng sản ở tận cùng Tây Bắc: Ngọn lửa Leng Su Sìn

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Ai từ Điện Biên - Lai Châu lên công tác vùng ngã ba biên giới A Pa Chải (xã Sín Thầu, H.Mường Nhé, Điện Biên) cũng dừng lại Đồn biên phòng Leng Su Sìn thắp hương tưởng niệm liệt sĩ Trần Văn Thọ, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đầu tiên của bộ đội biên phòng.
Đồn biên phòng Leng Su Sìn vào tháng 10.2020. ẢNH: ĐỘC LẬP
Đồn biên phòng Leng Su Sìn vào tháng 10.2020. ẢNH: ĐỘC LẬP
Ở khu tưởng niệm liệt sĩ này, tên anh Thọ đứng đầu danh sách 29 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong khi bảo vệ, giữ gìn mảnh đất địa đầu Tổ quốc.
Ở bản nhiều hơn ở đồn
Trung tá Chu Ngọc Lệ, nguyên Đồn trưởng Đồn biên phòng Leng Su Sìn (Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng Điện Biên), kể: Cuối tháng 9.1954, ta giải phóng hoàn toàn Lai Châu. Đối phó với các toán phỉ nổi lên ở ngã ba biên giới; tháng 2.1958, đồn 5 bộ đội biên phòng (nay là Đồn biên phòng Leng Su Sìn) được thành lập để bảo vệ chủ quyền, giữ gìn trị an khu vực tuyến biên giới Việt - Trung và biên giới Việt - Lào, quản lý 2 xã: Sín Thầu và Chung Chải thuộc tiểu khu 57, châu Mường Tè.

Công an Nhân dân vũ trang Lai Châu dạy chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới vào năm 1968. ẢNH: TƯ LIỆU
Công an Nhân dân vũ trang Lai Châu dạy chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới vào năm 1968. ẢNH: TƯ LIỆU
Thời điểm ấy, địa bàn do đồn phụ trách là vùng đất tận cùng khu tự trị Thái - Mèo, vừa khó khăn gian khổ vừa hoang sơ mông muội. Bản này cách bản kia từ 7 - 25 km đường rừng núi đèo dốc; nghiện hút thuốc phiện, mê tín dị đoan tràn lan. Nhà có người thân chết vào mùa mưa thì bó chiếu làm sàn gác lên, chờ đến mùa khô mới chôn xuống đất. Người dân thì mù chữ. Đến năm 1970, xã mới có trường cấp 1, học sinh học đến hết lớp 2 là bỏ; và mỗi xã, lúc nhiều nhất cũng chỉ có 31 học sinh đi học. “Ở đây còn tục cắt máu ăn thề. Khi đã ăn thề kết nghĩa anh em thì dù 1 trong 2 người có làm phản động chống phá cách mạng, người kia cũng không nói cho ai”, trung tá Chu Ngọc Lệ kể.
Chính trong những ngày khó khăn và mông muội ấy, ngọn lửa yêu thương và cống hiến đã được những chiến sĩ công an nhân dân vũ trang thắp lên, điển hình là thiếu úy Trần Văn Thọ. Sinh năm 1935 ở xã Việt Thành (H.Trấn Yên, Yên Bái), năm lên 10 tuổi bố mất, Trần Văn Thọ đã phải đi ở đợ để phụ mẹ nuôi em. 15 tuổi anh Thọ trốn nhà vào du kích và 17 tuổi (11.1952) xung phong đi bộ đội, được kết nạp Đảng tháng 12.1956. Vốn người miền núi, nên anh Thọ được đưa vào đơn vị chuyên chiến đấu ở vùng rẻo cao biên giới Lào Cai, Sơn La, Lai Châu. Hoạt động ở địa bàn đặc thù nhưng chiến sĩ Trần Văn Thọ vượt khó khăn gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và lập công lớn trong các trận chiến đấu ở Pừ Xì Ngài, Dào San (Lai Châu) giai đoạn 1953 - 1954.
Tháng 3.1959, công an vũ trang được thành lập, Trần Văn Thọ nhận quyết định chuyển về đồn 5 công an vũ trang Lai Châu. Đi bộ cả tuần từ châu Mường Tè vào đơn vị mới, anh Thọ đề xuất ngay với đồn trưởng Cao Lâm: “Tôi phải xuống ăn ở với dân thì mới vận động được người dân”. Không thể kể hết câu chuyện một người Kinh tìm cách hòa nhập với người Hà Nhì ngàn đời nay chỉ biết tộc người mình, gian khó ra sao. Chỉ biết qua vài tháng, từ chỗ bị đồng bào không cho vào nhà, phải mắc võng ngoài rừng ngủ, anh Thọ đã được… đồng ý cho vào bản giúp cắt tóc cho trẻ con, giặt quần áo hộ người già, mang muối gạo tặng gia đình khó khăn; và cuối cùng, được coi như người của bản, được một gia đình nhận làm con nuôi.
Mang cho dân từng hạt giống, lưỡi cày
Giữa năm 1959, cô gái Chu Chà Me, 15 tuổi, và là một trong những người Hà Nhì đầu tiên của bản Leng Su Sìn, nghe lời anh Thọ, vận động gia đình xuống núi, dựng nhà mới gần suối Păng Pơi. “Người Hà Nhì xưa chỉ biết dùng gậy vót nhọn chọc lỗ, tra ngô tra lúa để cây cối tự nhiên lớn lên mà không chăm tưới nên năng suất không cao. Năm nào rét đậm, sương muối thì mất hết, phải kiếm củ mài, rau rừng ăn chống đói”, bà Chu Chà Me nhớ lại và kể: “Anh Thọ mang cho dân từng hạt giống, lưỡi cày”.
Những cựu binh Đồn biên phòng Leng Su Sìn kể: Sau khi vận động dân xuống thấp định cư theo từng bản, Trần Văn Thọ đã cùng bộ đội lập tổ mẫu làm ăn, tổ đổi công và tìm mua giống lúa tốt của người Thái, thay cho giống năng suất kém của người Hà Nhì. Cuối 1959, khi về nghỉ phép ở quê, anh Thọ đã tìm mua 20 kg thóc giống, ôm khư khư suốt đoạn đường 700 km từ Phú Thọ lên Mường Tè và gùi cõng suốt 10 ngày đường đi bộ, mang lên tặng đồng bào Hà Nhì. Những đồng tiền phụ cấp ít ỏi, Trần Văn Thọ dành dụm mua lưỡi cày tặng từng gia đình và trực tiếp xuống ruộng hướng dẫn bà con cày bừa, gieo mạ, làm phân bón ruộng… Vụ mùa năm 1959, sản lượng lúa thu hoạch rất cao. Đồng bào Hà Nhì khu vực Leng Su Sìn, Sen Thượng ai cũng bảo “công của bộ đội Thọ hết đấy”.

Di ảnh Anh hùng - liệt sĩ Trần Văn Thọ. ẢNH: TƯ LIỆU
Di ảnh Anh hùng - liệt sĩ Trần Văn Thọ. ẢNH: TƯ LIỆU
Thương dân như người ruột thịt, Trần Văn Thọ dùng phụ cấp và vận động bộ đội trong đồn góp tiền mua giấy bút sách vở để dạy chữ xóa mù cho 24 cán bộ cốt cán và sau đó là toàn thể dân bản. Từ những cố gắng hết mình của anh Thọ, cuối năm 1959 việc học văn hóa đã trở thành phong trào quần chúng trong toàn địa bàn. Khi trình độ văn hóa của đồng bào được nâng lên, anh Thọ trực tiếp vận động các thầy mo, thầy cúng bỏ nghề và vào rừng chặt gỗ, đẽo cày bán cho dân bản và trở thành những thợ đẽo cày giỏi.
“Hồi ấy, những người mắc bệnh phong bị xua đuổi vào rừng sâu, anh Thọ cùng đội công tác vào làm lán ở cạnh, tìm thuốc trong rừng chữa bệnh cho họ. Anh dạy chúng tôi múa hát, học chữ và chính anh đã dành nhiều thời gian thuyết phục gia đình cho tôi ra tỉnh học”, bà Chu Chà Me kể. Ít ai biết rằng, là người đầu tiên của vùng ngã ba biên giới rời bản đi học, bà Chu Chà Me đã được đại diện cho học trò vùng dân tộc thiểu số đi đón Bác Hồ và được gặp Bác lần thứ 2 tại Hà Nội vào dịp 2.9.1960. Sau khi tốt nghiệp Trường Sư phạm Việt Bắc, bà Me đi dạy học, về công tác ở Ban Dân tộc tỉnh, và sau đó làm phát thanh viên tiếng Hà Nhì của Đài phát thanh - truyền hình Lai Châu cho đến khi nghỉ hưu.
Không chỉ giúp dân vượt qua đói nghèo lạc hậu, Trần Văn Thọ còn trực tiếp giáo dục, bồi dưỡng và giới thiệu kết nạp 13 quần chúng ưu tú vào Đảng, thành lập chi bộ Đảng đầu tiên ở xã Sính Phình (4.9.1959) và nhiều người đã trưởng thành thành cán bộ huyện.
Nằm lại với núi rừng
Ngày 8.8.1961, nhận được tin người dân báo “cán bộ Thọ ốm nặng lắm”, trung úy Cao Lâm, Đồn trưởng Đồn biên phòng Leng Su Sìn, lập tức cử một tổ công tác mang cáng vào khênh về. Vừa tới đồn thì Trần Văn Thọ trút hơi thở cuối cùng. Ông Lường Văn Thước (89 tuổi, hiện đang sống ở xã Sen Thượng, H.Mường Nhé, Điện Biên), nguyên là bạn chiến đấu với liệt sĩ Trần Văn Thọ từ ngày mới nhập ngũ và sau đó cùng công tác ở Đồn biên phòng Leng Su Sìn, kể lại: “Thọ ở bản với dân, làm việc quá sức, ăn uống không đảm bảo nên khi mất, người toàn da bọc xương. Trước khi liệm, chúng tôi phải vào kho lấy quân trang mới, thay bộ quần áo vá chằng vá đụp” và trầm giọng: “Vật dụng quý nhất của Thọ là đôi giày bata trắng. Cậu ấy dành đi khi lấy vợ. Hôm chôn Thọ, tôi để đôi giày bên cạnh cậu ấy”.
Ngày an táng liệt sĩ Trần Văn Thọ, bà con dân bản kéo về đông nghịt. Mỗi người bê 2 hòn đá dưới suối Păng Pơi xếp lên ngôi mộ và dựng bia tưởng niệm người chiến sĩ 26 tuổi. Ngày 1.1.1967, Hồ Chủ tịch ký lệnh truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Trần Văn Thọ.
41 năm sau, ngày 24.7.2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định tặng bằng Tổ quốc ghi công cho liệt sĩ Trần Văn Thọ. Cuối tháng 2.2016, tượng đài Anh hùng liệt sĩ Trần Văn Thọ và khu tưởng niệm các liệt sĩ đã được khánh thành ở vị trí đối diện Đồn biên phòng Leng Su Sìn (H.Mường Nhé, Điện Biên) hôm nay.
(còn tiếp)
Theo Mai Thanh Hải-Nguyễn Độc Lập (TNO)

Có thể bạn quan tâm

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

null