Mùa sứa biển xuất ngoại

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Trước đây những con sứa biển luôn khiến ngư dân tránh xa vì lo rách lưới nay bỗng chốc hóa thành “vàng trắng”, được chế biến đóng gói xuất khẩu. Vì săn sứa, hàng ngàn ngư dân Diễn Châu (Nghệ An) đã sắm thuyền mảng và ngư cụ để vươn khơi đánh bắt.

 

Niềm vui được mùa sứa của ngư dân Diễn Hải
Niềm vui được mùa sứa của ngư dân Diễn Hải


Ngàn thuyền giăng lưới trong đêm

Anh Phạm Xuân Nghĩa, ngư dân chuyên đánh bắt sứa (trú ở xóm Xuân Châu xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu) cho biết: Mùa khai thác sứa bắt đầu từ tháng Giêng cho đến hết tháng tư âm lịch. Khoảng thời gian này là mùa sứa sinh sản và kết thành từng mảng lớn trôi thành luồng trên biển nên thích hợp để ngư dân khai thác.

Theo anh Nghĩa, mỗi đêm có hàng ngàn con thuyền của ngư dân Diễn Châu và các tỉnh bạn như Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình giăng lưới vớt sứa ở ngoài khơi. Riêng xã Diễn Kim đã có trên 200 con thuyền lớn nhỏ. “Đêm nào cũng vậy, trên các bờ biển rất nhộn nhịp bởi hàng ngàn con thuyền gọi nhau vươn khơi như chuẩn bị vào chiến dịch. Vui  lắm!”, anh Nghĩa nói. Cũng theo anh, giờ “vàng” của đánh bắt sứa là khoảng nửa đêm trở về sáng. Đây là thời điểm sứa nổi trên mặt nước và trôi theo dòng. Khi đó, ngư dân chỉ việc định hướng di chuyển của sứa để thả lưới đón đầu và vớt lên thuyền. Nếu thuận lợi thì thời gian đánh bắt khoảng 7-8 tiếng đồng hồ, các bè mảng sẽ đầy ắp sứa. Bình quân mỗi ngày, một bè mảng đánh bắt được từ 500kg đến hơn 1 tấn sứa. Với giá sứa hiện nay (14.000-15.000 đồng/yến thì bình quân một bè mảng có thể thu về từ 300.000 đến hơn 1 triệu đồng/ngày. “Có ngày vợ chồng tôi bắt được hơn tấn, nhập cho cơ sở chế biến sứa xuất khẩu tại bờ được gần 1 triệu đồng. Nhờ sứa mà từ đầu mùa tới nay, gia đình tôi thu được hơn 30 triệu đồng”, anh Nghĩa cho biết.

Nhiều ngư dân cũng cho biết, khai thác sứa là một nghề hái ra tiền nhưng cũng là một nghề vất vả và nguy hiểm. Hàng ngàn con thuyền đánh bắt trong đêm, nên lúc thả lưới rất dễ chồng lên nhau. Mỗi lưới dài hơn 2 km khi thu về, thả lại rất vất vả. Chưa kể sứa tiết ra chất độc gây ngứa ngáy, nổi mề đay cũng rất khó chịu. Nếu lỡ sảy chân ngã vào luồng sứa thì rất nguy hiểm vì sứa phản xạ tiết độc gây ngứa. Tuy vậy, để khai thác sứa dính lưới, ngư dân phải vớt bằng tay và mỗi ngày họ phải ngâm đôi tay của mình dưới nước hàng tiếng đồng hồ. Thân sứa trơn lại nặng vì mang theo cả nước biển (trung bình mỗi con sứa khoảng 15 - 20kg, có con to lên đến 1 tạ) nên kéo được nó lên thuyền cũng rất vất vả. Nếu ai không đủ sức khỏe hoặc da nhạy cảm, dễ dị ứng thì không thể theo nghề đánh bắt sứa được.

Ông Nguyễn Bảy, một ngư dân ở xã Diễn Hải thở dài: “Nghề sứa cũng rất bấp bênh vì khai thác sứa còn phụ thuộc vào thời tiết. Năm ngoái sự cố Formosa gây ô nhiễm môi trường biển miền Trung mặc dù biển Diễn Châu không bị ảnh hưởng nhưng ngư dân nơi này cũng lao đao vì sức mua sụt giảm. Chưa kể, chúng tôi còn phải phụ thuộc vào các cơ sở chế biến. Nếu họ thu mua ít hoặc không thu mua thì đành phải gác thuyền!”.

Nguồn “vàng trắng” là lộc của biển nhưng cũng không phải là vô tận. Theo nhiều ngư dân thì nguồn sứa hiện nay đánh bắt nhiều nên không còn dồi dào như trước và phải ra khơi xa mới đánh bắt được. “Trước đây sứa nhiều lắm, hai cha con tôi có ngày bắt được vài 3-4 tấn nhưng nay sứa đã hiếm rồi bởi người đánh bắt nhiều quá. Hiện, mỗi ngày đêm tôi cũng chỉ đánh bắt được khoảng trên dưới 5 tạ”, ông Bảy cho biết.

Đổi đời cho hàng ngàn người

Hiện nay, huyện Diễn Châu có 7 cơ sở chế biến sứa. Những cơ sở này bao tiêu sản phẩm cho bà con ngư dân, trong đó có 3 cơ sở chế biến sứa có công suất hoạt động 300 tấn/ngày.

Ông Nguyễn Văn Khánh, chủ cơ sở chế biến sứa Khánh Vinh đóng tại xã Diễn Kim, cho biết: Sau khi sơ chế phân loại, sứa được đưa vào máy quay ly tâm cho hết nhớt và làm sứa cứng lại, thải hết tạp chất. Sau đó, được đưa ra dây chuyền làm sạch. Không chỉ chế biến ở dạng thô mà cơ sở chúng tôi còn sản xuất sứa ăn liền với nhiều loại khác nhau được người tiêu dùng rất ưa chuộng. Sứa đã qua chế biến có giá cao gấp nhiều lần so với sứa thô, dao động từ 40.000 - 45.000 đồng/kg. Từ đầu mùa tới nay, chúng tôi đã xuất bán được hơn 1.000 tấn sứa. Nhờ đó đã tạo việc làm thường xuyên cho hơn 30 lao động.

Nhờ dám đầu tư, những ông chủ lớn như ông Khánh không còn hiếm ở Diễn Châu. Những cơ sở này đã tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động địa phương. Theo báo cáo của địa phương, mỗi năm các cơ sở chế biến sứa của Diễn Châu xuất ra thị trường hơn 6.000 - 7.000 tấn sứa các loại, mang về nguồn thu hơn 100 tỷ đồng. Sản phẩm sứa đã qua chế biến của Diễn Châu chủ yếu được xuất khẩu ra thị trường ngoài nước như: Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Hàn Quốc...

Nghề chế biến, xuất khẩu sứa thu lãi lớn nhưng theo các chủ cơ sở chế biến thì cũng rất bấp bênh vì việc chế biến còn phụ thuộc nhiều vào nguồn sứa đánh bắt của ngư dân. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc. Nếu đối tác ngừng thu mua hoặc thu mua ít sẽ kéo theo sứa rớt giá, tồn kho và hệ lụy kéo theo là hàng ngàn lao động khai thác, chế biến sứa cũng sẽ lao đao theo. Nhưng nỗi lo lớn nhất của những cơ sở chế biến nơi này là nguồn sứa sụt giảm nhiều so với những năm trước và buộc phải thu mua sứa của ngư dân các tỉnh bạn, như Hà Tĩnh, Thanh Hóa để đủ nguyên liệu chế biến xuất ra thị trường.

Nghề khai thác, chế biến sứa đã xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho hàng ngàn hộ gia đình vùng duyên hải Diễn Châu. Tuy nhiên, việc khai thác hàng loạt và tự phát như hiện nay đang làm dấy nên lo ngại ô nhiễm môi trường tràn lan. Trao đổi về việc này, ông Lê Thế Hiếu, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Diễn Châu, cho biết: Các cơ sở chế biến sứa trên địa bàn đều ở xa khu dân cư. Trong quá trình cấp phép hoạt động, huyện đã yêu cầu các chủ xưởng cam kết chặt chẽ, tất cả các xưởng đều phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, đảm bảo khi ra môi trường phải an toàn. Hiện nay máy móc, dây chuyền sản xuất ở các cơ sở chế biến này đều áp dụng các công nghệ hiện đại, các quy trình chế biến đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm vừa bảo vệ môi trường, vừa đáp ứng tốt nhu cầu người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Theo sggp

Có thể bạn quan tâm

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

null