Hương trà cổ thụ giữa thiên đường mây

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Những năm gần đây, giới “tao nhân mặc khách” truyền tai nhau về một thứ trà quý hiếm đất Việt với hương vị thơm ngon không giống bất cứ loại trà nào đang có trên thị trường, đó là trà Shan tuyết cổ thụ Tà Xùa (tỉnh Sơn La). Chúng tôi đã tìm về cội nguồn của dòng trà này, để nghe câu chuyện về đời trà, đời người nơi đây. 
Đời người đi qua, đời cây ở lại
Nhắc tới Tà Xùa, người ta thường nghĩ ngay tới hình ảnh rẻo cao Tây Bắc với tiết trời trong lành, tinh khiết, nguyên sơ và đặc biệt là những cuộn mây trắng phau giăng kín lối mỗi khi tiết trời lạnh ẩm. Những năm gần đây, Tà Xùa được biết đến không chỉ với tên gọi “thiên đường mây” mà đây còn là cái nôi, cội nguồn của những cây trà cổ thụ quý hiếm, hương thơm ngây ngất lòng người. 
Vượt qua những con dốc gần như thẳng đứng, chúng tôi đi theo lối mòn đến bản Bẹ, cách trung tâm thị trấn Tà Xùa chừng 12km đường núi cheo leo, khúc khuỷu. Đây là một trong những bản làng có nhiều cây trà cổ thụ nhất tại Tà Xùa. Ngay từ đoạn đường bê tông đang làm dở để dẫn vào bản, chỉ cần phóng tầm mắt sang sườn núi hai bên đường, ta có thể thấy những cây trà cổ thụ cao quá đầu người, thân cây xù xì mốc trắng, bám đầy địa y, tán và cành cây vươn rộng, to vài người ôm mới xuể.
 
Thu hoạch trên cây trà cổ thụ tại bản Bẹ - Tà Xùa
Chúng tôi tìm đến nhà của một già làng trong bản và không khó để trao đổi thông tin với người dân tộc H’Mông ở đây, bởi đa số bà con đều rất thạo tiếng Kinh. Khi được hỏi về thâm niên của những cây trà cổ thụ, người cao tuổi nhất trong số những già làng tỏ ra lúng túng. Tuổi của những cây trà tại đây không thể tính theo năm mà phải tính theo đời người. Không ai biết chính xác các gốc trà cổ thụ có từ bao giờ, chỉ biết khi họ sinh ra cây đã lớn vậy rồi. 
Chia sẻ với ánh mắt đầy nuối tiếc, già làng kể: “Cách đây vài năm, khi điện còn chưa về bản, nhà nào nhà nấy trồng ngô khoai sắn quanh năm vẫn không đủ ăn, chúng tôi phải chặt cây trà đi để trồng thêm khoai vì nếu có để lại, cây cũng không biết dùng làm gì. Gần tới mùa đông thì chặt cây phơi khô để nhóm lửa sưởi ấm cho cả nhà và trâu bò qua được cái rét buốt. Đến khi bắt đầu có người vào thu mua trà thì chúng tôi mới biết cây có giá trị. Lúc ấy, số lượng cây trà đã bị chặt đi già một nửa”.
Đời người đi qua, đời cây ở lại. Những cây trà từng là nhân chứng lịch sử cho thăng trầm của biết bao đời người H’Mông tại bản Bẹ. Người ta đem chặt những cây trà vì chúng không có giá trị kinh tế, vì cuộc sống mưu sinh, nhưng có lẽ đến khi dân trí tại đây phát triển tới một mức nào đó, chúng tôi tin họ sẽ tiếc nuối khi nhận ra mình từng phá hủy một thứ có giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc rất riêng của người H’Mông.
Khôi phục trà cổ thụ
Quay trở lại thị trấn Tà Xùa, chúng tôi tiếp tục hành trình của mình qua sự dẫn đường của một người dân bản địa. Người dẫn đường đưa chúng tôi tới một ngôi nhà khang trang ven thị trấn. Vừa bước tới cổng, bao trùm không gian tĩnh mịch, hun hút giữa đại ngàn buổi xế chiều là một hương thơm vừa lạ vừa quen, đó là hương thơm của trà. 
Chủ nhân nơi đây chính là anh Mùa A Khư (32 tuổi), cán bộ xã, người đầu tiên làm kinh tế trên cây trà Tà Xùa. Khi chúng tôi tới cũng là lúc khu vực sản xuất nhà anh Mùa A Khư vừa đỏ lửa. Anh Khư không ngần ngại đưa chúng tôi vào tận nơi sản xuất trà, nhiệt tình pha một ấm trà mời chúng tôi thưởng thức và bắt đầu chia sẻ những câu chuyện về loại sản vật quý giá này. 
 
Bà con dân tộc H’Mông mang trà đã thu hái về nơi tập kết
“Mình sinh ra và lớn lên ở đây, cuộc sống gắn liền với cơm đấu sắn đấu ngô, với đói rét cùng bà con. Trước đây mình cũng giống như bà con, chẳng biết cây trà có giá trị gì. Cho tới khi làm cán bộ xã, có cơ hội được xuống miền xuôi học, gặp gỡ những thương lái rồi mới biết những cây trà cổ có giá trị kinh tế rất lớn. Suy nghĩ đầu tiên trong mình khi bắt đầu làm kinh tế cho cây trà là: Bà con mình sắp thoát nghèo rồi! Mình cùng những người đam mê trà từ dưới miền xuôi lên đã tìm cách sản xuất trà từ những cây trà cổ, mình học từ cách hái lá đến cách sao sấy trà rồi dạy lại cho bà con. Mình muốn sản phẩm trà cổ thụ phải có hương vị thơm ngon đặc trưng mà vẫn giữ được bản sắc riêng của bà con H’Mông”, anh Khư chia sẻ.
Khi chúng tôi hỏi về những khó khăn, thách thức trong quá trình tìm cách đưa trà cổ thụ Tà Xùa vào sản xuất và mang ra thị trường, anh Khư trầm ngâm: “Khó khăn thì nhiều lắm, thậm chí là cả thất bại nữa, nếu kể về những thất bại thì phải nói cả ngày mất. Nhưng hồi đó để tìm ra cách sản xuất, chế biến giúp trà đạt chất lượng ngon nhất, mình đã phải đổ bỏ rất nhiều tạ trà bị làm hỏng”.
Vừa nói, anh Khư vừa mang một nắm lá trà tươi mới thu hái lúc chiều đưa chúng tôi xem và chỉ những điểm khác biệt của trà Tà Xùa với trà ở các vùng khác. Đó là ở kích thước lá trà to hơn, mà trên búp trà còn có một lớp lông tơ trắng mịn gọi là tuyết trà. Vì thế nên người ta mới gọi trà Tà Xùa là trà Shan tuyết. Nếu trong quá trình sản xuất không cẩn thận sẽ làm mất hết lớp lông tơ quý giá này. 
Từ sự tỉ mỉ và chỉn chu trong từng công đoạn sản xuất, dần dần nhiều người đã biết tới trà Shan tuyết Tà Xùa. Hiện nay, những mẻ trà mà anh Khư làm ra thậm chí không đủ đáp ứng nhu cầu khách hàng. Từ đó, bà con trong bản có công ăn việc làm ổn định, mỗi ngày chỉ đi núi thu hái trà, đi từ sáng sớm tới chiều rồi đem ngay về nhà xưởng của anh Khư cũng được từ 300.000 - 600.000 đồng/ngày, tùy theo sản lượng.
Cũng tại nhà của anh Khư, chúng tôi đã trò chuyện cùng anh Mùa A Kí (29 tuổi, người dân tộc H’Mông), một người cũng “đổi đời” nhờ trà. Nhà anh A Kí vài năm gần đây chuyển từ làm nương rẫy sang làm trà. Trong gia đình, nhân lực làm trà chủ yếu là vợ và con anh, một ngày hai người đi hái trà trên núi từ sáng tới chiều, mỗi ngày cũng được 300.000 - 500.000 đồng, đợt nào vào đúng mùa thì được tiền triệu. Thu nhập này là con số đáng mơ ước của gia đình anh, bởi trước đi làm nương rẫy, trồng ngô khoai sắn, một tháng thu nhập cũng không được quá 300.000 đồng. Từ thu nhập đó, anh A Kí tích góp và vay mượn thêm, xây một ngôi nhà gỗ ở gần thị trấn cho khách du lịch, khách đi phượt thuê. Tại đó, anh A Kí bán và giới thiệu các sản phẩm trà Tà Xùa. Nhờ vậy mà gia đình anh đã thoát được cái đói, cái nghèo bao năm bủa vây.
Không chỉ có anh Mùa A Khư và anh Mùa A Kí, vài năm gần đây, trà cổ thụ đã trở thành nguồn thu nhập chính giúp bà con dân tộc tại Tà Xùa cải thiện cuộc sống. Dù nơi đây vẫn còn nhiều khó khăn nhưng với tâm huyết, mong muốn đem ra thị trường dòng trà sạch, chất lượng của đồng bào dân tộc H’Mông, những người con Tà Xùa sẽ đưa hương trà Shan tuyết cổ thụ bay xa… 
Thanh Mai (SGGP)

Có thể bạn quan tâm

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

Nguyễn Vũ Mạnh Khang trở về trong sự chào đón nồng nhiệt. Ảnh: Hồ Điểm

Từ những câu hỏi về ánh sáng…

(GLO)- Giành huy chương bạc tại kỳ thi Olympic Vật lý châu Âu (EuPhO) 2026, Nguyễn Vũ Mạnh Khang, học sinh Trường THPT chuyên Lê Quý Ðôn (phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai) góp phần cùng đội tuyển Việt Nam ghi dấu ấn tại sân chơi học thuật quốc tế.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Khép lại cuộc chia ly sau 51 năm

Tìm lại người thân sau 51 năm lưu lạc trên đường 7

(GLO)- Năm 1975, giữa dòng người di tản trên đường 7 (nay là quốc lộ 25), cô bé Hồ Thị Diễm lạc mất gia đình và được người Jrai ở buôn Du (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai) cưu mang, nuôi dưỡng. Hơn nửa thế kỷ sau, đứa trẻ lạc năm nào bất ngờ tìm lại được người thân nhờ một video trên YouTube.

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

(GLO)- Giữa biển trời Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ đảo Tiên Nữ và Núi Le C vẫn kiên cường bám biển, giữ đảo. Vượt qua nắng gió khắc nghiệt và thiếu thốn nơi đầu sóng, những người lính đảo đang lặng thầm vun đắp màu xanh sự sống, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của biển đảo quê hương.

“Đường về” của Siu Un

“Đường về” của Siu Un

(GLO)- Sau những sai lầm trong quá khứ, ông vượt qua mặc cảm, thay đổi nhận thức, trở thành người tích cực tuyên truyền pháp luật, vận động bà con sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, góp phần giữ gìn bình yên buôn làng.

Những phận đời bới rác mưu sinh

Những phận đời bới rác mưu sinh

(GLO)- Mỗi buổi sáng, khi phố Núi còn bảng lảng sương sớm, những chuyến xe chở rác lại nối đuôi vào khu tập kết rác xã Gào. Giữa mùi hôi nồng và đàn ruồi dày đặc, những người phụ nữ lặng lẽ cúi mình trên nền đất nhớp nháp, cần mẫn bới tìm chai nhựa, lon bia, giấy vụn…

Người gieo rừng trong bình thủy tinh

Người gieo rừng trong bình thủy tinh

(GLO)- Từ 300 triệu đồng có được sau khi bán mảnh đất canh tác duy nhất của mình, anh Thái Xuân Biên (40 tuổi, ở thôn An Thượng 3, xã Cửu An) bước vào lĩnh vực công nghệ sinh học dù chưa từng biết đến phòng thí nghiệm. 6 năm sau, mỗi năm doanh nghiệp của anh sản xuất 19 triệu cây giống.

null