Tham gia thảo luận tại tổ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và nhiệm vụ năm 2027, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai Siu Hương đánh giá cao những kết quả đạt được trên tất cả các lĩnh vực.
Tuy nhiên, qua hoạt động giám sát, khảo sát và tiếp xúc cử tri tại địa phương, quá trình triển khai một số chính sách vẫn còn khó khăn, cần sự phối hợp, hướng dẫn kịp thời của các bộ, ngành Trung ương.
Tháo gỡ vướng mắc trong xử lý trụ sở, tài sản công dôi dư
Theo đại biểu (ĐB) Siu Hương, sau khi thực hiện chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính, việc rà soát, sắp xếp, xử lý tài sản công, nhất là các cơ sở nhà, đất và trụ sở làm việc dôi dư, được địa phương tập trung triển khai theo chỉ đạo của Trung ương.
Kết quả giám sát của Đoàn ĐBQH tỉnh cho thấy, các cơ sở nhà, đất dôi dư cơ bản đã được rà soát, phân loại và xác định phương án xử lý. Tuy nhiên, quá trình triển khai trên thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với các cơ sở thực hiện phương án giao đất, cho thuê đất, đấu giá hoặc cho thuê tài sản công.
Việc xử lý phải thực hiện nhiều thủ tục liên quan đến đất đai, tài sản công, đồng thời phụ thuộc vào điều kiện khai thác và nhu cầu thị trường. Đối với các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, nhu cầu thị trường hạn chế càng khiến việc khai thác, sử dụng tài sản công dôi dư gặp trở ngại.
Từ thực tế này, ĐB Hương đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu cơ chế cho phép thời hạn khai thác tài sản công phù hợp với thời gian thu hồi vốn hợp lý, nhất là đối với những cơ sở cần đầu tư kinh phí lớn để cải tạo, sửa chữa. Việc khai thác cần gắn với trách nhiệm bảo trì, hoàn trả tài sản và kiểm soát chặt chẽ việc thay đổi công năng, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng, tránh thất thoát, lãng phí.
Một khó khăn khác là hệ thống phần mềm quản lý tài sản công tại địa phương vẫn tồn tại song song dữ liệu của tỉnh Bình Định và tỉnh Gia Lai trước khi sắp xếp, gây trở ngại cho công tác quản lý, cập nhật và theo dõi tài sản.
Do đó, đại biểu kiến nghị Bộ Tài chính sớm hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công, ban hành hướng dẫn thống nhất để địa phương số hóa hồ sơ, cập nhật biến động và theo dõi đầy đủ quá trình hình thành, quản lý, sử dụng, xử lý từng trụ sở, cơ sở nhà, đất.
Đối với các cơ sở đã xác định không còn nhu cầu sử dụng, có hồ sơ pháp lý đầy đủ và không có tranh chấp, đại biểu đề nghị nghiên cứu quy trình xử lý đơn giản, rõ thẩm quyền, giảm các bước trung gian nhưng vẫn bảo đảm chặt chẽ, công khai, minh bạch.
Đồng thời, Chính phủ cần chỉ đạo rà soát, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công với pháp luật về đất đai, quy hoạch, xây dựng và kế toán, tạo thuận lợi cho địa phương trong quá trình sắp xếp, xử lý tài sản công sau sáp nhập.
Điều chỉnh quy định về bảo hiểm xe máy bắt buộc
Bên cạnh đó, ĐB Siu Hương đề cập là kiến nghị của cử tri về bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc đối với chủ xe cơ giới, trong đó có xe máy.
Theo đại biểu, qua nhiều đợt tiếp xúc cử tri và dự sinh hoạt chi bộ tại khu dân cư, người dân phản ánh việc tham gia loại hình bảo hiểm này chưa mang lại hiệu quả thiết thực như kỳ vọng. Khi xảy ra tai nạn giao thông, người dân gặp nhiều khó khăn trong quá trình làm thủ tục để được giải quyết chi trả bảo hiểm.
Đại biểu cho rằng, bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe cơ giới có ý nghĩa bảo vệ quyền lợi của người thứ ba khi xảy ra thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc tài sản. Tuy nhiên, thực tế cho thấy một bộ phận người dân mua bảo hiểm chủ yếu để đối phó khi cơ quan chức năng kiểm tra, thay vì nhận thức đầy đủ về quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia bảo hiểm.
Dẫn số liệu báo cáo của Bộ Tài chính, đại biểu cho biết năm 2025, cả nước có khoảng 72 triệu xe máy, nhưng tỷ lệ xe máy lưu hành tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc chỉ khoảng 17%.
Từ thực tế này, ĐB Siu Hương đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, tham mưu Chính phủ xem xét sửa đổi quy định theo hướng không bắt buộc mà khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với xe máy.
Theo đại biểu, việc rà soát chính sách cần xuất phát từ thực tiễn thực hiện, bảo đảm quy định phù hợp hơn với hành vi và nhu cầu của người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của các bên khi xảy ra tai nạn giao thông.