'Bố già' xóm chân cầu

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Là người đầu tiên sinh sống ở bãi giữa sông Hồng rồi từ từ mà tụ họp thành cả một xóm ngụ cư như hiện nay, dân ở đây coi ông Được Đen như trưởng làng của mình. Trẻ con sinh ra ở cái xóm chắp vá này, được người thầy đầu tiên là ông Được dạy chữ. Lại cũng là ông, chạy vạy ngược xuôi để đám trẻ ấy có giấy khai sinh, có thể đến trường lớp đàng hoàng...
'Bố già' xóm chân cầu ảnh 1

Một góc thư viện miễn phí của ông Được tại bãi giữa sông Hồng

“Bố già” 76 tuổi tóc còn xanh

Từ giữa cầu Long Biên, hai bên có hai cái cầu thang rộng chừng 1m, cao hơn 3m dẫn thẳng xuống bãi giữa sông Hồng. Cái cầu thang này có cấu tạo giống hệt cầu thang của những khu tập thể cũ của Hà Nội, nghĩa là hai bên có bậc (rất hẹp) để đi bộ, ở giữa là một đường thẳng bé chừng hơn gang tay để đi xe máy. Ở độ dốc 45 độ (có khi hơn), đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con cứ vùn vụt phi xe lên xuống như làm xiếc. “Cài số một, đi từ từ thôi”, họ hướng dẫn.

Ngay từ khi bước xuống chân cầu, hỏi thăm nhà ông Được Đen, ai cũng biết. Ông Được có gương mặt của một người đã từng qua tang thương dâu bể. Mỗi một nỗi đau đi qua đều để lại những đường vân bén như đao khắc. Năm nay ông 76 tuổi, vẫn là một đầu tóc đen, chỉ nghiện thuốc lào vặt, ngoài ra không rượu, không chè, không cờ bạc...

Ông Được, tên đầy đủ là Nguyễn Đăng Được, định cư ở bãi giữa tính đến nay chừng 40 năm. “Cô đừng hỏi thời gian cụ thể, tôi không nhớ đâu. Lúc ấy lang thang làm thuê ngoài Hà Nội, tối ngủ vỉa hè. Nhưng vỉa hè thì sau 9h người ta mới đóng cửa hàng, sáng trước 4h đã phải dậy. Mỗi lần xong việc, tôi lần ra sông Hồng tắm rửa, phát hiện cái đảo này, thế là qua ở luôn. Sống như Rô bin sơn hai năm thì có thêm người tá túc cùng. Là tôi thấy họ tội quá, cũng lang thang phố phường, không chỗ trú chân, nên rủ về. Dần dần nó thành xóm như hôm nay”.

Thực ra, quê gốc ông Được ở mãi Quảng Bình, lớn lên ở Huế và Thái Lan. 17 tuổi ông nhập ngũ, được đào tạo trở thành đặc công. Năm 1972, khi sang Lào làm nhiệm vụ, nhóm của ông gồm 5 người bị phỉ Vàng Pao phục kích bắn tỉa, 4 người hi sinh, chỉ mình ông bị thương nhẹ giả chết thành ra sống sót. Trở về quê, vì mất hết giấy tờ và không còn “nhân chứng”, câu chuyện của ông trở thành “nghe biết vậy”. Chán chường, ông Được quay ra Nam Định báo tử cho gia đình người đồng đội theo lời trăng trối của anh trước khi mất, rồi lang thang cắm rễ ở Hà Nội.

Xóm bãi giữa đông dần lên, chủ yếu dân tứ xứ làm nghề tự do, một số người lưu lạc từ nhỏ, thậm chí không nhớ quê mình ở đâu. Ông Được coi họ như những người anh em mà bảo hộ. Con cái những người này sinh ra, ông dùng vốn liếng lớp 7 phổ thông của mình dạy xóa mù cho chúng. Lũ trẻ lớn dần lên, chính ông là người chạy vạy lên chính quyền phường, quận rồi thành phố để xin giấy khai sinh “cho chúng nó được đến trường”.

Không ở đâu cán bộ cấp giấy khai sinh cho con của những người không hộ khẩu, không nguồn gốc, không giấy tờ tùy thân. Ông gõ cửa Hội phụ nữ, nhất định không gặp “bộ phận tiếp dân hay văn thư hành chính”, mà phải là “người có quyền to nhất”. Nói chuyện với chủ tịch Hội, ông bảo: “Nếu không giúp chúng nó thì đời này, đời sau, đời sau nữa của chúng vẫn cứ tối tăm không lối thoát như vậy, trẻ con thì có tội gì”?

Về sau, ông đem chuyện này “kêu” ở khắp các tổ chức xã hội mà ông biết và được một tổ chức của Liên hợp quốc tài trợ 20 triệu. Ông chỉ dùng tiền ấy vào việc đưa các bà mẹ mới sinh về tận quê họ, nhờ chính quyền xã xác nhận công dân này là người địa phương này, xong mới ngược lên Hà Nội xin giấy khai sinh.

“Ở đây, tôi cứu người nhiều nên các anh bên phường cũng tạo điều kiện. Giờ xin giấy khai sinh cho bọn trẻ dễ rồi. Nhưng còn 17 người lớn vẫn không làm cách nào để có căn cước công dân”, “bố già” thở dài.

Có một sự trùng khít trong trách nhiệm của ông Được với vai diễn “bố già” trong bộ phim nổi tiếng cùng tên: bất cứ ai đã được “bố già” chấp nhận bảo hộ, thì đều có quyền nhờ ông giúp đỡ, ở mọi nơi, mọi lúc, kể cả ngay trước giờ làm lễ cưới con gái duy nhất của ông.

Nguyên tắc cứu người

Một công việc khiến “bố già” Được Đen nổi tiếng khắp vùng bờ Bắc sông Hồng suốt mấy chục năm qua chính là ông thường xuyên cứu người nhảy sông tự vẫn và vớt xác người chết đuối. Người ta gọi ông là “người cướp cơm của Hà Bá”.

“Chả có lý do gì cao siêu cả, nhìn thấy người ta như thế mà không ra tay thì lương tâm mình không yên”, ông Được đều đều kể.

Thời gian đầu định cư bãi giữa, ông Được sống trên một cái thuyền. Đã quen với việc ông hay ôm vào người, cứ có ca nào sắp nhảy cầu hay xác trôi sông là người ta ới ông đầu tiên. Có lần, cứu một người phụ nữ nhảy cầu lên, ông bị người ta quay lại mắng xa xả. Lẳng lặng đưa người vào bờ, ông dúi đầu người phụ nữ xuống nước “để cô thử cảm giác chết đuối là thế nào”. Chỉ hai lần dúi, người này quỳ xuống: “tôi cả giận mất khôn, xin bác tha cho”.

Lần khác, dõi theo một thanh niên người nước ngoài mấy ngày liền, ông Được nghi người này muốn nhảy cầu. “Làm việc này nhiều nên tôi nhạy lắm, ai muốn nhảy, sắp nhảy, tôi liếc mắt qua là nhận ra”. Sau nhờ sinh viên phiên dịch, ông mới biết, thanh niên người Thụy Điển, vì thất tình, bị lừa tiền mà có ý định ra sông kết liễu cuộc đời. Không đắn đo, ông Được rủ người này về nhà mình, cưu mang suốt hai năm.

'Bố già' xóm chân cầu ảnh 2

Ông Được Đen. Tranh: Kim Duẩn

Lại có lần, một cậu thanh niên vừa nhảy sông định chết thì hoảng quá kêu cứu. Ông Được phải đuổi từ cầu Long Biên xuống cầu Chương Dương mới vớt được người. Ai ngờ, lên thuyền rồi, người này giở chứng, lại đứng ở đầu mũi thuyền sàng qua sàng lại để thuyền đắm, ông không nói không rằng, phi vút thuyền vào bờ, cậu trai theo đà bắn như mũi tên đập mặt xuống đất. Đứng lên được, cậu đi thẳng không ngoảnh lại. Thời gian sau, cậu dẫn theo bố mẹ đến tìm ông Được cảm ơn.

“Họ mang rất nhiều tiền, tôi chỉ lấy năm trăm ngàn để làm lễ tạ Hà Bá. Đây là thói quen của dân vùng sông nước. Theo dân gian, cứ người nào rơi xuống sông, thì đều là “thức ăn” của Hà Bá. Mình cứu họ, vớt họ lên là cướp cơm của Hà Bá, nên muốn yên ổn thì phải làm lễ tạ. Lễ thì đơn giản thôi, một mâm cơm bình thường, với ít vàng mã và hình nhân thế mạng, cho lên cái bè rồi thả ra sông. Không phải ai cũng quay lại cảm ơn, nên hầu hết những lễ này đều là tôi bỏ tiền túi ra làm”, ông kể.

Tôi hỏi, ông có nhớ mình đã cứu được bao nhiêu người không, ông bảo, không nhớ, ngày xưa vớt xác không thấy người nhận, tôi chôn ngay ở bãi, nhiều lắm, phải đến hàng trăm, nhưng rồi lũ lụt, mưa bão, bờ lở, mộ cũng mất. Tôi lại hỏi những người nhảy cầu được cứu có ai quay lại cảm ơn ông không? Ông Được bảo, một số có, một số không. Có người đem theo cả mấy chục triệu, nói biếu tôi, nhưng tôi không nhận, đấy là nguyên tắc. Tôi cứu người có phải vì tiền đâu!

Quanh năm tiếp xúc với xác chết trôi dạt, nhiều trường hợp ngâm nước lâu ngày đã biến dạng, có người hỏi ông Được sợ không, ông thủng thẳng trả lời: tôi từng tự tay chôn cất 4 đồng đội, rồi một mình ngồi canh mộ cho họ 3 đêm, còn điều gì dọa tôi được nữa?

Làm sân chơi và thư viện miễn phí cho trẻ

Thích trẻ con, ông Được bao giờ cũng dành cho chúng sự quan tâm lớn nhất trong điều kiện của mình. Qua thời dạy xóa mù và xin giấy khai sinh, ông thương lũ trẻ không có chỗ chơi, tình nguyện cắt một phần đất trồng ổi để làm sân chơi cho chúng. Vài năm gần đây, một người con nuôi cùng ông cải tạo, nâng cấp sân chơi này thành một sân chơi phiêu lưu miễn phí cho trẻ nhỏ.

Ngoài tuổi thất thập, hàng ngày vợ chồng ông vẫn sống bằng thu nhập của việc nhặt rác, “nhì nhằng bán quán” và “bán vé tham quan” 20.000 đồng một lần cho người lớn. “Chỗ này trông thế chứ Tây thích lắm, hồi chưa có dịch, Tây đến rất đông”, ông Được chỉ ra cái sân rợp bóng cây giới thiệu.

Rồi vẫn sợ trẻ con đến chơi buồn, ông lọ mọ đi mua sách cũ về lập thư viện miễn phí. Sách của ông được cập nhật thường xuyên. Cứ khi nào trẻ con kêu “sách đọc hết rồi” là ông lại gom thành thùng, đem tặng những trường học ở vùng sâu, vùng xa, rồi kiếm sách mới bù vào.

Khách đến sân chơi, thấy mô hình của ông thú vị, cũng đem sách qua tặng. “Đầu sách giờ nhiều, trẻ quanh đây hay mượn về đọc vì thư viện của tôi chưa có cái bàn tử tế để ngồi. Thôi cứ túc tắc làm dần, sức đến đâu làm đến đấy cô ạ”, ông Được vừa rít thuốc lào vừa “chốt hạ” câu chuyện với tôi “để còn đi chở nước cho khách”.

'Bố già' xóm chân cầu ảnh 3

Ông Được Đen

Tài sản lớn nhất của ông Được

Ông Được cứu người cả đời hiện vẫn ở trong ngôi nhà tạm không có khóa trên đất thuê ngoài bãi giữa. Bây giờ, xóm này đã có người quản, đất đai phải nộp thuế chứ không vô tư như ngày ông mới ra đây nữa. Cuộc hôn nhân của ông với một công dân xóm chân cầu làm nghề nhặt rác có ba đứa con. “May mắn là ba đứa nó đều ngoan, giờ đều là đầu bếp cả”, ông khoe.

Ngoài ba con đẻ, ông Được Đen còn có rất nhiều con nuôi. “Toàn là trẻ lang thang không bố mẹ, tôi nhận về. Có đứa ở vài năm, có đứa ở đến tận giờ”.

“Đến tận giờ” theo lời ông là một sinh viên khoa công nghệ thông tin, bị tật ở chân nhưng “học giỏi lắm”!

Có thể bạn quan tâm

Những phận đời bới rác mưu sinh

Những phận đời bới rác mưu sinh

(GLO)- Mỗi buổi sáng, khi phố Núi còn bảng lảng sương sớm, những chuyến xe chở rác lại nối đuôi vào khu tập kết rác xã Gào. Giữa mùi hôi nồng và đàn ruồi dày đặc, những người phụ nữ lặng lẽ cúi mình trên nền đất nhớp nháp, cần mẫn bới tìm chai nhựa, lon bia, giấy vụn…

Người gieo rừng trong bình thủy tinh

Người gieo rừng trong bình thủy tinh

(GLO)- Từ 300 triệu đồng có được sau khi bán mảnh đất canh tác duy nhất của mình, anh Thái Xuân Biên (40 tuổi, ở thôn An Thượng 3, xã Cửu An) bước vào lĩnh vực công nghệ sinh học dù chưa từng biết đến phòng thí nghiệm. 6 năm sau, mỗi năm doanh nghiệp của anh sản xuất 19 triệu cây giống.

Giữ buôn Jứ!

Buôn Jứ: Hành trình an cư sau những mùa lũ

(GLO)- Mỗi khi mùa mưa đến, người dân buôn Jứ (xã Ia Tul, tỉnh Gia Lai) lại thấp thỏm nhìn con nước sông Ba dâng lên nhanh. Với họ, lũ là nỗi ám ảnh kéo dài qua nhiều thế hệ. Và rồi, sau những trận ngập lịch sử, hàng trăm hộ dân buôn Jứ đang sáng lên hy vọng về một cuộc sống bình yên, tốt đẹp hơn.

Thanh âm buôn cổ

Thanh âm buôn cổ

Người dân buôn cổ M’Liêng vẫn còn gìn giữ nghề thủ công truyền thống cùng nhiều hiện vật cổ. Khi buôn có lễ hội, âm thanh cồng chiêng vang lên như một niềm tự hào của người dân nơi đây. Buôn cổ này may mắn sở hữu một khu rừng thiêng.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Điện Biên - Ký ức không phai, mãi mãi tự hào

Điện Biên - Ký ức không phai, mãi mãi tự hào

(GLO)- Hơn 70 năm trôi qua, những người góp sức làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã ở tuổi xưa nay hiếm, nhiều người không còn nữa. Dù vậy, trong từng câu chuyện, từng kỷ vật được gìn giữ, một thời hoa lửa vẫn hiện lên chân thực, xúc động và đầy tự hào.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ.

Tình yêu kháng chiến - hạnh phúc trọn đời

Tình yêu kháng chiến - hạnh phúc trọn đời

(GLO)- Chiến tranh dẫu khốc liệt song từ sự đồng hành của những người cùng chung lý tưởng cách mạng, tình yêu đã đơm hoa kết trái, trở thành điểm tựa để người lính vững vàng giữa bom đạn, vun đắp nên hạnh phúc bền chặt sau ngày đất nước thống nhất.

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Viết lại đời mình bằng việc tử tế

Viết lại đời mình bằng việc tử tế

(GLO)- Ít ai biết, sau dáng vẻ điềm đạm, ít nói của người đàn ông đã bước qua tuổi lục tuần - Kpă Dõ, Trưởng ban Công tác Mặt trận làng Lê Ngol (xã Bờ Ngoong) - là một quá khứ nhiều day dứt. Hai mươi lăm năm trước, vì nhẹ dạ và thiếu hiểu biết, ông bị lôi kéo vào con đường lầm lỡ.

null