Thuốc bảo vệ thực vật "rải thảm" vùng cao

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Bây giờ, hiện hữu dưới bạt ngàn màu xanh các loại hoa màu, sắn, ngô, chuối… ở các huyện miền núi, là lớp cỏ bị cháy úa, vàng khét. Mùa này sang mùa khác, để cây trồng vươn lên đơm hoa nảy mầm, người dân đua nhau mua thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu sử dụng một cách vô tội vạ.

Chợt giật mình, bởi hàng nghìn ha ruộng nương ở trên cao được thảm một lớp chất độc, còn “hứng” phía dưới là nguồn nước. Mà nguồn nước này, đồng bào ăn ở đây, tắm cũng ở đây. Vậy chất độc đi đâu?

Tưới chất độc ở trên, lấy nước uống ở dưới

 

Người đàn ông mang bình bơm vừa phun xong thuốc diệt cỏ ở rẫy phía trên con suối. Còn gia đình anh Nguyên tắm rửa, múc nước đục ngàu ở con suối về sử dụng.
Người đàn ông mang bình bơm vừa phun xong thuốc diệt cỏ ở rẫy phía trên con suối. Còn gia đình anh Nguyên tắm rửa, múc nước đục ngàu ở con suối về sử dụng.

Đi hết 7 xã vùng Lìa của huyện Hướng Hóa, rồi ngược xuôi các xã người đồng bào Vân Kiều, Pa Cô theo đường Hồ Chí Minh tại huyện Đak Rông của tỉnh Quảng Trị, ở nương rẫy nào cũng nhan nhản bao bì, chai hộp có nhãn mác của thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu... Hình như, họ không hề để ý, hoặc không biết đến hậu quả của việc ô nhiễm, tồn dư khi lạm dụng các loại thuốc chứa chất độc này.

Tháng 9, những rẫy sắn bạt ngàn ở 7 xã vùng Lìa bắt đầu được người dân thu hoạch. Củ sắn vừa được nhổ, chất lên xe vận chuyển đi nhà máy thì những thân sắn được chặt thành đốt, chất đống ở rẫy để trồng lại vụ mới hoặc đợi dăm bữa thuận lợi sẽ xuống đất.

Gặp ông Đêng (SN 1953, trú tại thôn Ta Nua, xã Thanh, huyện Hướng Hóa) ở sát bên hông ngôi nhà sàn khi ông soạn thuốc, bình bơm để chuẩn bị lên rẫy. Chai nước màu xanh, nắp đỏ mà ông bỏ vào gùi là thuốc trừ cỏ, đây là “bảo bối” xuất hiện mấy năm gần đây mà vào đầu vụ, giữa vụ người làm nông nghiệp nào cũng sử dụng.

Rẫy sắn của ông Đêng không xa nhà lắm, gần ngay dòng suối nhỏ, nên việc bơm thuốc không mấy khó khăn. Đổ gần đầy nước vào bình bơm, ông Đêng cho 1 nắp thuốc vào, rồi phun vào đám cỏ đang mơn mởn. Hết bình này, ông lại đổ nước suối, thêm nắp thuốc rồi tiếp tục công việc phun thuốc lên khắp rẫy sắn. Mỗi vụ, người đàn ông này bơm thuốc 2 lần để diệt cỏ lúc mới trồng và lúc cây sắn cao hơn đầu gối người lớn.

“Tôi mua 1 két gồm 20 chai thuốc ni, tính ra 1 chai giá 60 nghìn đồng. Bơm 1 lượt là cỏ chết hết nhưng sắn vẫn lên xanh tốt, rất tiện” - ông Đêng nói.

Không xa rẫy của ông Đêng, anh Nguyên (SN 1995, trú tại thôn Ta Nua) cũng chuẩn bị trừ cỏ ở nương lúa và rẫy sắn. Không sử dụng chai thuốc như ông Đêng, anh Nguyên mua loại thuốc gói với giá 10 nghìn đồng/gói rồi hòa vào bình bơm có sẵn nước. Loại thuốc gói này chất lượng hơn, chỉ cần rải qua một lượt là cây cỏ nào cũng rũ xuống, héo rồi vàng úa, chết khô.

Biết cây cỏ ngậm phải thuốc là bị hủy hoại vì loại thuốc này rất độc, nhưng quá trình phun thuốc, cả ông Đeng và anh Nguyên không có lấy một đồ bảo hộ. Chỉ với bộ áo quần rằn ri, chiếc mũ phớt và đôi dép, không bao tay, họ mang bình bơm chứa thuốc diệt cỏ lên vai, đi phăm phăm từ đầu đến cuối nương rẫy, rải cả thảm thuốc lên cây cỏ để những mầm cây sắn, cây lúa được vươn lên. Xong đâu đấy, họ ghé lại con suối để súc rửa bình bơm, mà chẳng ai mảy may lo nghĩ gì.

Chưa đến nửa tháng, khi quay lại thôn Ta Nua sau cơn mưa tầm tã, rẫy của ông Đêng, anh Nguyên sạch không một cọng cỏ. Gặp anh Nguyên cùng vợ và đứa con nhỏ ở đoạn suối chảy qua con đường dẫn vào nơi bà con canh tác. Dù nước đục ngàu vì mới mưa lớn, nhưng anh Nguyên vẫn làm một can nước đầy để chở về nấu nướng, còn vợ anh đang tắm cho đứa con nhỏ chưa đến 2 tuổi.

Hỏi anh không sợ khi dùng nước bẩn và ngay cạnh các nương rẫy mới bơm xong thuốc trừ cỏ à? Vợ chồng anh Nguyên chỉ cười cười. “Không dùng nước này thì dùng nước chi bây giờ” - anh Nguyên, dửng dung.

Ở 7 xã vùng Lìa này, hay các xã dọc tuyến đường Hồ Chí Minh tại huyện Đak Rông, đi đến đâu cũng gặp cảnh cây cỏ chết khô vì thuốc diệt cỏ. Ở các rẫy sắn, rẫy chuối, nương lúa hay bất kỳ loại cây trái, hoa màu nào được đồng bào trồng, đất đai ở đó đều tắm thuốc diệt cỏ…

Không chết ngay, mà chết từ từ

 

Chai thuốc diệt cỏ nhan nhản ở các nương rẫy của người đồng bào Vân Kiều.
Chai thuốc diệt cỏ nhan nhản ở các nương rẫy của người đồng bào Vân Kiều.

Trước kia, người đồng bào Vân Kiều, Pa Cô ở các huyện miền núi của tỉnh Quảng Trị canh tác các loại cây trồng không sử dụng bất kỳ loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ gì. Nhưng mấy năm trở lại đây, khi các loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được bán tràn lan, giá rẻ nhưng hiệu quả thấy rõ, nên người dân đua nhau mua về dùng.

Đến ngã ba xã Tân Long (huyện Hướng Hóa), hỏi mua các loại thuốc BVTV tại đây rất dễ dàng. Mua lẻ vài chai, vài gói hoặc mua cả lô, cả két thuốc diệt cỏ khai quang đều được người bán đáp ứng, nhưng khi dò hỏi về việc cấp phép bán thuốc BVTV, thì chủ cửa hàng lại tỏ ra dè dặt.

Bà Nguyễn Hồng Phương - Chi cục trưởng Chi cục trồng trọt và BVTV tỉnh Quảng Trị - thừa nhận, hiện người dân ở các huyện miền núi, đặc biệt là vùng người đồng bào thiểu số sinh sống sử dụng tràn lan các loại thuốc diệt cỏ. Không chỉ lạm dụng thuốc, mà việc thu gom bao bì thuốc BVTV của bà con cũng chưa được quan tâm dẫn đến thực trạng bao bì tồn tại ở nương rẫy, sông suối, khả năng ô nhiễm nguồn nước rất cao.

Theo bà Phương, việc lạm dụng các loại thuốc này sẽ gây tác động tiềm tàng cho người sử dụng lẫn người sinh sống cạnh đó. Việc bị ảnh hưởng không diễn ra ngày một ngày hai, mà tồn dư các loại thuốc BVTV sẽ tích lũy rồi gây bệnh.

Hiện chưa có báo cáo nào nói về tình trạng người dân bị ảnh hưởng bởi thuốc BVTV, nhưng thực tế, ở vùng Lìa của huyện Hướng Hóa đã ghi nhận nhiều trường hợp phụ nữ bị sinh non. Và những người sinh non cho biết rằng, quá trình mang thai đã tiếp xúc, sinh sống ở vùng đất sử dụng thuốc diệt cỏ.

Bên cạnh đó, ở Trạm Y tế xã Thanh (huyện Hướng Hóa) thời gian gần đây, một số bệnh nhân đến truyền nước vì bị choáng. Qua thăm khám, nhân viên y tế không phát hiện ra bệnh, hỏi thì bệnh nhân cho biết bị choáng sau khi bơm thuốc diệt cỏ, quá trình bơm thuốc, bệnh nhân không sử dụng đồ bảo hộ gì…

Đặt câu hỏi việc cơ quan chức năng đã làm gì trước tình trạng lạm dụng thuốc BVTV, bà Phương cho hay, đơn vị đã tổ chức khá nhiều lớp tập huấn về cách sử dụng thuốc BVTV ở tuyến vùng Lìa, và các lớp tập huấn thu hút người dân tham gia. Thực tế đang tồn tại, ở Quảng Trị có đến 190 cơ sở bán các loại thuốc này, nhưng chỉ 90 cơ sở được cấp phép.

Việc kiểm tra, xử phạt những cơ sở kinh doanh thuốc BVTV trái quy định cũng rất khó khăn, bởi chỉ kiểm tra đột xuất mới phát hiện được, còn nếu phối hợp với địa phương thì không rõ vì sao người kinh doanh biết trước, nên giấu hết hàng.

“Khi phát hiện sai phạm, căn cứ quy định phạt từ 3 đến 4 triệu đồng, nhưng những người buôn bán trái phép họ vẫn lén lút, vì địa phương chưa quan tâm phối hợp. Còn bà con tham gia tập huấn thì hào hứng vậy, nhưng không mấy hiệu quả” - bà Phương, nói.

Cũng theo bà Phương, hiện người dân dùng nhiều nhất là loại thuốc diệt cỏ khai quang, sử dụng cho sắn, chuối, lúa có tồn tại hoạt chất 2.4D và Paraquat có khả năng gây bệnh nguy hiểm cho động vật và con người. Nguy hiểm là vậy, nhưng làm cách nào để hạn chế việc “rải thảm” chất độc xuống đất như bây giờ vẫn chưa có câu trả lời xác đáng.

Với cách rải cả thảm chất độc xuống đất ở ngay nguồn nước như bây giờ, chẳng bao lâu nữa, tồn dư chất độc từ các loại thuốc BVTV tích lũy ở đất, ở nước sẽ đủ để gây bệnh. Số liệu lúc đó đủ để làm báo cáo, đủ để nhìn nhận về tác hại kinh hoàng từ chất độc của thuốc diệt cỏ. Nhưng, lúc ấy thì còn gì nữa!

Ngày 8-2-2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có QĐ số 278/QĐ-BNN-BVTV về việc loại bỏ thuốc BVTV chứa hoạt chất 2.4D và Paraquat ra khỏi danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam. Quyết định kèm theo danh sách thuốc BVTV chỉ được sản xuất, nhập khẩu tối đa 1 năm, được buôn bán, sử dụng tối đa 2 năm từ ngày quyết định có hiệu lực. Bên cạnh đó, ngừng toàn bộ các thủ tục đưa vào danh mục đối với các hồ sơ đăng ký thuốc BVTV có chứa hoạt chất 2.4D và Paraquat kể từ ngày quyết định có hiệu lực.

Lâm Hưng Thơ/laodong

Có thể bạn quan tâm

Trường mới ở vùng biên

Trường mới ở vùng biên

(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

null