Theo dòng sông Ba - Kỳ 5: Báu vật Đồng Cam

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Vượt hơn 300 km về vùng hạ du, trước khi ra biển, sông Ba đã trở thành báu vật cho một vùng cư dân cả triệu người khi đập Đồng Cam được Pháp xây dựng để lấy nước tưới cho những cánh đồng khô hạn.


Con đập kỳ tích

Hơn 80 năm trôi qua khi con đập được coi là thành quả kinh tế nông nghiệp lớn nhất mà chính quyền thực dân Pháp đã làm được ở miền Nam Trung Bộ, người dân Phú Yên vẫn tự hào khi nhắc đến nó.

 

 Cư dân Mơ-nâm làng Kon Plong ở đầu nguồn Đak Pak của sông Ba chuyên làm lúa nước, giữ rừng đầu nguồn rất tốt.
Cư dân Mơ-nâm làng Kon Plong ở đầu nguồn Đak Pak của sông Ba chuyên làm lúa nước, giữ rừng đầu nguồn rất tốt.

Báo cáo về xây dựng đập Đồng Cam từ Sở Thủy nông Đông Dương cho biết công trình này là công lao khổ nhọc của các nhà khoa học, các kỹ thuật viên và đáng nói là của một lượng nhân công người Việt khổng lồ.

Vì sao có đập Đồng Cam? Nhà nghiên cứu Trần Sĩ Huệ giải thích: “Vì người Pháp thấy cái đồng bằng Tuy Hòa nằm sát con đường lớn của Phú Yên quá rộng lớn nhưng người dân vùng này cứ mãi thiếu đói hạt gạo ăn, trong khi nước sông Đà Rằng (tên gọi sông Ba chảy qua Tuy Hòa) lại không được tận dụng. Không đói sao được khi năng suất ở châu thổ Đà Rằng lúc ấy chỉ có 800kg thóc/ha/vụ?”.

Với quy mô xây một con đập lớn đủ tưới cho hàng vạn hecta ruộng, lại chặn dòng một sông lớn như sông Ba phải có nguồn kinh phí lớn.

Những toan tính xây đập trên sông Ba của Phú Yên được người Pháp hoạch định từ năm 1890 nhưng phải đợi đến năm 1923 mới thực hiện được theo thiết kế của kỹ sư trưởng Lefèvre.

“Người Pháp phải bỏ ra đến 3.651.000 đồng bạc Đông Dương để xây đập Đồng Cam, chưa kể những khoản chi phí cho khảo sát ban đầu, chi phí cho nhân viên, công chức...” - ông Huệ cho biết.

Để thi công cùng lúc vừa đập chính - dài đến 680m trên dòng sông, vừa hai kênh chính Nam và chính Bắc 68km cùng 16 kênh phụ và mương ở hai kênh này với chiều dài 97km cùng các cống vượt qua đường, qua suối chủ yếu dựa vào thủ công cả là một kỳ tích.

Con đập kỳ vĩ có thể đo được, nhưng sẽ không đo được sức lực, mồ hôi nước mắt của con người đổ ra để xây lên nó lúc ấy.

Trong thời gian xây dựng cao điểm (năm 1924-1929), mỗi ngày trên công trường có đến 1.200 nhân công. Những giai đoạn cần tranh thủ làm tối đa mỗi ngày có đến 1.800 - 5.000 người trên công trường.

Để con đập được hoàn thành, đã có nhiều người Việt đã nằm xuống. Trong báo cáo về đập Đồng Cam của người Pháp có ghi tai nạn làm 49 công nhân chết vì lật đò, 2 người chết đuối khi đắp đê tạm, 1 người chết vì bắn đá.

Người Pháp đã xây miếu thờ, lập bia khắc tên những người đã chết vì xả thân cho đập Đồng Cam.

 

Bia kỷ niệm khắc bằng chữ Nho tên 52 người bỏ mình vì tai nạn khi tham gia xây dựng đập Đồng Cam hồi tháng 9-1929.
Bia kỷ niệm khắc bằng chữ Nho tên 52 người bỏ mình vì tai nạn khi tham gia xây dựng đập Đồng Cam hồi tháng 9-1929.

Dòng nước ấm no

Sau hai năm cho dẫn nước thử nghiệm, năm 1933 đập Đồng Cam đã chính thức đưa vào sử dụng, tưới được cho 19.000ha ruộng của Phú Yên.

“Đập Đồng Cam là cuộc đổi đời của người dân Phú Yên. Ấy là họ có được cơm no, có được năm hai mùa lúa, năng suất cao hơn thời ăn nước trời gấp mấy lần - ông Nguyễn Văn Trúc, nguyên phó bí thư thường trực Tỉnh ủy Phú Yên, nói - Cũng nhờ vậy mà thời Việt Minh, Phú Yên đã góp lương thực cho Liên khu 5 và cứu đói cho mấy tỉnh lân cận...”.

Theo ông Trúc, thời chiến tranh năm 1951, quân Pháp đã cho một đội quân kéo đến phá hủy đập Đồng Cam.

Nhưng vì thân đập quá kiên cố, quân Pháp đã không đạt được ý đồ. Sau đó, họ cho máy bay ném bom đánh sập hai cầu máng của đập Đồng Cam là cầu máng Đồng Bò ở phía nam và Suối Cái ở phía bắc.

Vì sập cầu máng làm đứt nước tưới lúa nên năm 1952 dân ở đây đói. Đến khoảng đầu năm 1955 hai cầu máng này mới được chính quyền Sài Gòn cho làm lại.

Đập Đồng Cam đã tồn tại qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đến nay, sau khi cơi thêm thân đập cao lên, đập Đồng Cam đã cung cấp nước tưới được cho 31.000ha ruộng, xứng danh “báu vật” trên những cánh đồng của tỉnh Phú Yên.

 

Dự án xây dựng đập Đồng Cam chắn ngang sông Ba, nối liền từ Đồng Cam với Quy Hậu, có chiều dài 657 mét.

Đập Đồng Cam được thi công trong những điều kiện kỹ thuật phức tạp vì lũ sông Đà Rằng mỗi năm có thể lên xuống tới 20 lần.

Lưu lượng lũ từ 8.000 - 10.000 m3/giây, có khi lên đến 13.000 m3/giây. Trở lực này là nghiêm trọng nhất, có thể làm đảo lộn bất ngờ mọi kế hoạch của công trường nên không một hãng nào dám mời thầu.

Chính quyền thuộc địa phải thi công theo lối công quản dưới sự điều khiển của hai kỹ sư thượng hạng De Fargue và Machefaux, đập chính được thi công liên tục từ năm 1925 - 1929 mới hoàn thành và từ năm 1933 mới đi vào hoạt động.

Trong bài diễn văn nhân dịp khánh thành hệ thống thủy nông Đồng Cam ngày 7-9-1932, toàn quyền Đông Dương Pasquier đã nhận xét về giá trị công trình này: “Du khách đi theo đường thuộc địa, vừa qua một vùng đất hết sức tốt tươi của xứ Trung Kỳ, một vùng đất mà nước trong lấp lánh khắp nơi giữa các cây hoa màu xanh tốt, không thể tưởng tượng được cảnh đau buồn trước đây của đồng bằng Tuy Hòa, thường sáu tháng trong một năm biến thành vùng thảo nguyên khô cằn, bị mặt trời thiêu cháy và bão cát đè lên” (dẫn theo Bộ Thủy lợi 1981 và Sở Thủy lợi Phú Yên 1990).

Đập Đồng Cam nằm cách trụ sở xã Hòa Hội (huyện Phú Hòa) bên quốc lộ 25 theo con đường nhỏ về phía nam chừng 2 km.

Một kiến trúc toàn đá granite chẻ lục giác với kích cỡ nhỏ được gắn kết với ximăng. Đẹp lạ thường. Mặt trên của tất thảy những bờ ngăn của đập - cũng là những lối đi, dù không tô trát nhưng mặt đá vẫn bằng như mạch cắt. Kiến trúc Đồng Cam khiêm tốn nhưng chứng tỏ được cái hùng vĩ nhân tạo của con người trước thiên nhiên.

Qua cây cầu Đà Rằng dài trên 1.500m bắc qua sông Ba tại thành phố Tuy Hòa, dòng nước phù sa luôn cuồn cuộn chảy vào mùa mưa để đổ về biển rộng.

“Đoạn sông Ba từ dưới đập Đồng Cam xuống đến cửa biển dài trên 30km, người Phú Yên mình quen gọi là sông Đà Rằng. Còn cửa biển thì có người gọi là cửa Đà Rằng, có người gọi cửa Đà Diễn. Nhưng gọi là vậy chứ bà con ai cũng biết Đà Rằng là sông Ba; Đà Rằng, Đà Diễn đều là cửa ra biển của sông Ba...” - ông Trần Sĩ Huệ dẫn giải.

Theo tuoitre

Có thể bạn quan tâm

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

(GLO)- Ẩn giữa rừng sâu xã Krong (tỉnh Gia Lai), những căn lán nhỏ được dựng ngay dưới gốc giáng hương cổ thụ. Đó là nơi lực lượng bảo vệ rừng ăn ngủ, thay nhau canh giữ từng cây hương quý - những “báu vật” của đại ngàn.

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí bầu cử nơi biên giới

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí ngày hội lớn của toàn dân nơi biên giới

(GLO)- Những ngày cận kề cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Mơ (tỉnh Gia Lai) phối hợp với chính quyền, già làng, người uy tín đến từng làng tuyên truyền, vận động bà con sẵn sàng tham gia ngày hội lớn của toàn dân.

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Khi phố xá đã lên đèn và nhiều gia đình yên giấc, trên những tuyến đường thuộc xã Long Hải (TPHCM) vẫn có những ánh đèn xe lặng lẽ di chuyển. Đó là ánh đèn của Đội SOS Long Hải - nhóm thanh niên tình nguyện đã suốt 7 năm qua hỗ trợ người dân gặp sự cố giao thông trong đêm.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

“Thần y trị điểu”

“Thần y trị điểu” ở An Khê

(GLO)- Hàng chục năm qua, căn nhà của anh Hoàng Huy (SN 1992, ở tổ 1, phường An Khê, tỉnh Gia Lai) luôn ríu rít tiếng chim. Ở đó, anh Huy âm thầm cứu chữa cho hàng trăm chú chào mào mắc bệnh từ khắp nơi gửi về.

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng

(GLO)- Một ngôi làng Bahnar không người ở, bị "bỏ quên" giữa núi rừng Tây Nguyên nhưng vẫn hấp dẫn nhiều du khách ghé thăm nhờ vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên và kiến trúc nhà truyền thống. Đó là làng Kon Sơ Lăl cũ (xã Ia Khươl, tỉnh Gia Lai).

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

(GLO)- Sáng nào cũng vậy, khi mặt trời vừa lên khỏi dãy núi Chư A Thai, ông Nguyễn Kim Tống (thôn Thanh Thượng, xã Chư A Thai) lại tự lái ô tô vượt quãng đường gần 40 km sang xã Pờ Tó để kiểm tra từng khu chuồng trại, từng đàn bò.

Rẫy chung ở Đak Đoa

Rẫy chung ở Đak Đoa

(GLO)- Giữa những đồi cà phê vào độ chín rộ ở xã Đak Đoa, có những khu rẫy không thuộc về riêng một hộ nào. Đó là rẫy chung - mảnh đất “không chia phần” của cộng đồng, nơi bà con cùng góp công vun trồng, chăm sóc qua từng mùa, lặng lẽ tích lũy thành nguồn lực chung để lo việc thôn, việc làng.

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Từng đoàn khách dập dìu men theo con đường nhỏ dẫn vào làng gốm Thanh Hà (phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng). Ngôi làng nhỏ gần 500 năm tuổi bên dòng Thu Bồn, nơi các thế hệ truyền nhau gìn giữ làng nghề nổi danh xứ Quảng.

null