(GLO)- Ngày 23-10-1961, theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam đã quyết định thành lập Đoàn 759, tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân (với tên gọi "Đoàn tàu không số") để vận chuyển vũ khí, trang bị cho chiến trường miền Nam bằng đường biển.
Thấm thoát từ ấy đến giờ đã nửa thế kỷ trôi qua và đã 36 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đường Hồ Chí Minh trên biển đã khẳng định vai trò quan trọng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước và trở thành huyền thoại trong lịch sử quân sự. Bên bại trận và những người ở chiến tuyến bên kia cũng phải thừa nhận điều đó...
Lớp người làm nên con đường huyền thoại này, giờ đây đều đã ở cái tuổi xưa nay hiếm. Và tôi có may mắn trong hơn một tháng rưỡi rong ruổi khắp chiều dài đất nước là được cùng những con người đó ôn lại những năm tháng không thể nào quên.
Tàu không số không phải vì… không có số
Gần 40 năm gắn bó với binh nghiệp, ông Nguyễn Hữu Tuần (ở Can Lộc, Hà Tĩnh) từng là sĩ quan tham mưu tác chiến Bộ Tư lệnh Hải Quân, Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu, rồi là trợ lý Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Nắm rất vững về sự ra đời của Tập đoàn Đánh cá sông Gianh, về lịch sử Lữ đoàn Vận tải quân sự 125 Hải quân bởi ông Tuần là một trong ba người làm kế hoạch đi biển cho các chuyến tàu “không số” sau này. Đã sang tuổi 82 nhưng ngày ngày ông vẫn cặm cụi bên trang viết. Ký sự của ông chưa in thành sách, cũng chẳng phải để đăng báo. Ông bảo, đơn giản là mình lưu lại “Một thời để nhớ” (tên tập ký sự) cho con cháu sau này.  |
| Cùng các cựu chiến binh Đoàn 962 thăm Di tích bên tiếp nhận vũ khí Cồn Tàu (huyện Duyên hải, tỉnh Trà Vinh). Ảnh: Hoàng Thu Vân |
Trò chuyện với ông Tuần mới vỡ ra, nói đến Đoàn tàu không số, trước tiên phải nói tới Tập đoàn Đánh cá sông Gianh. Họ là những người đầu tiên làm nên con đường huyền thoại trên biển. Tháng 7-1959, Tiểu đoàn Vận tải thủy 603 có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí trên biển chi viện cho miền Nam chính thức được thành lập theo quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu. Đơn vị đóng quân ngay ven bờ sông Gianh, thôn Thanh Khê, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình). Đây là khu vực có cảng và là nơi cửa sông nên hằng ngày có rất nhiều tàu bè ra vào nên dễ trà trộn, khó bị địch phát hiện. Để giữ bí mật, đơn vị không dùng tàu thuyền của vùng sông Gianh mà cử người ra Nghi Thiết (Nghi Lộc- Nghệ An) đặt đóng thuyền 2 đáy, trọng tải 20 tấn. Sau 2 tháng, 4 chiếc thuyền đã đóng xong. Nhờ có buồm cùng dây lưới gửi từ miền Nam ra theo đường bộ, 4 chiếc thuyền của đơn vị đã được cải trang thành tàu đánh cá của ngư dân miền Nam. 18h ngày 27-1-1960 (tức 30 Tết năm Canh Tý), chiếc tàu của Đại đội 1 (Tiểu đoàn 603), mang theo 5 tấn vũ khí, thuốc men nhổ neo từ cửa sông Gianh đi bến Hố Chuối ở chân đèo Hải Vân để chi viện cho chiến trường Khu Năm. Đây là chuyến tàu đầu tiên, từng bước làm nên con đường huyền thoại trên biển Đông mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Như lời kể của ông Tuần, trước khi thực hiện những chuyến đi, anh em phải luyện tập hàng tháng trời, từ việc chịu đựng sóng gió, quăng chài, thả lưới sao cho giống ngư dân xịn đến tập lấy phương hướng theo sao trời, theo địa hình… Và cuối cùng là chờ gió mùa Đông Bắc về để ra khơi nhằm tránh bị địch phát hiện và lợi dụng sức gió, xuôi sóng đỡ phải chèo lái bằng tay… Cuối cùng, như chợt nhớ ra, tôi hỏi về nguồn gốc tên gọi tàu “không số”, ông cười bảo: “Tàu không số không phải vì… không có số, mà đó là những chuyến đi thực hiện nhiệm vụ đặc biệt nên phải giữ bí mật”. Vâng, những chuyến đi mà hiểm nguy luôn rình rập nhưng lính tàu không số luôn có trái tim quả cảm và niềm tin tất thắng. Đó là điều mà những kẻ bại trận không thể nào hiểu nổi.  |
| Bến tàu không số năm xưa. Ảnh: Bích Hà |
Sau 6 ngày đêm lênh đênh trên biển, ngày 16-10-1962, tàu Phương Đông 1 đã cập bến Vàm Lũng (Ngọc Hiển, Cà Mau) an toàn cùng với 30 tấn vũ khí. Cùng ngày đó tàu Phương Đông 2 được lệnh xuất bến, mấy ngày sau thì tới Cà Mau giữa ban ngày. Tiếp theo là Phương Đông 3 khởi hành ngày 14-11-1962 và Phương Đông 4 khởi hành ngày 14-12-1962. Riêng 4 chuyến tàu “không số” cập bến Cà Mau an toàn vào thời điểm cuối năm 1962 đã chuyển được 112 tấn vũ khí, đạn dược cho chiến trường Khu Chín… Tiếp cận với hàng chục cựu chiến binh tàu “không số”, tôi luôn quan tâm đến nơi đóng những con tàu giúp các ông vượt biển chuyển vũ khí vào Nam, nhưng câu trả lời đều là những cái lắc đầu, không rành chuyện đó. Người bảo nhận tàu ở mấy đảo bên nước bạn (Trung Quốc), người lại bảo, tàu sắp sẵn hàng ở dưới Hải Phòng, nhận lệnh lên tàu là nhổ neo ngay trong đêm, cũng chả biết “anh” nào đóng tàu cho mình… Mày mò bên Bộ tư lệnh Hải quân và lắp ghép những chuyện được nghe, mãi sau tôi mới biết 4 con tàu Phương Đông nêu trên là do Xưởng đóng tàu I được giao nhiệm vụ thực hiện từ hồi đầu năm 1962. Vẫn nằm ở vị trí cũ, ngay bên bờ sông Cấm (Hải Phòng), nay xưởng thuộc Công ty Đóng tàu thuyền Hạ Long. Đây là xưởng đóng tàu có từ thời Pháp với cái tên là Lục Lộ thủy, chuyên sửa chữa các loại tàu thủy, ca nô xà lan, ô tô, cần cẩu. Năm 1955, sau khi tiếp quản Lục Lộ thủy, ngành giao thông đã đổi tên thành Ty Xưởng máy và sau là Xưởng đóng tàu I do Bộ Giao thông- Bưu điện trực tiếp quản lý. Số cán bộ công nhân của xưởng có lúc lên tới 700 người, nhưng hầu hết là người gốc Quảng Nam, Quảng Ngãi tập kết ra Bắc. Những người tham gia đóng 4 con tàu gỗ phần lớn là đảng viên, tuy nhiên chính họ lúc đó cũng không hiểu những con tàu đang đóng sẽ dùng vào việc gì. Không dùng động cơ sản xuất ở Liên Xô như các tàu thông thường, những chiếc tàu này sử dụng động cơ Grey Marin 220 sức ngựa của Mỹ và động cơ Suda của Tiệp Khắc vì Suda có hình dáng khá giống với Grey Marin. Đã thế, lại được đóng theo kiểu tàu đánh cá của ngư dân miền Nam đang sử dụng… Để tăng năng lực vận chuyển, sau này Đoàn 759 được trang bị tàu vỏ sắt do Xưởng đóng tàu III làm. Trước 1954, xưởng này có tên là Công ty Sà lan và kéo Đông Dương gọi tắt là Sa-rích. Sau ngày ta tiếp quản Hải Phòng năm 1955, Sa-rích đổi thành Xưởng đóng tàu III. Ông Lê Đăng Ninh sinh năm 1941, hiện sống tại khu tập thể Nhà máy Đóng tàu Tam Bạc kể: “Tôi không biết tàu này đóng cho đơn vị nào, dân sự hay quân sự nhưng tôi mang máng rất quan trọng vì trước khi vào khu vực sản xuất, bảo vệ kiểm tra rất nghiêm ngặt. Chúng tôi làm 3 ca, thậm chí xưởng còn cho để nhà vệ sinh lưu động ngay nơi sản xuất”. Những chiếc tàu này lắp máy của Nga ký hiệu BAD6 và BAD12, khoang chở hàng có đáy và có thể chở được 150 tấn. Tàu đóng xong được đưa ra thử tải ở Bạch Long Vĩ và qua mấy ngày kiểm tra, xưởng đã giao tàu ở khu vực Hòn Dáu. Ngày 17-3-1963, chiếc tàu sắt tốc độ 9,5 hải lý/giờ, dài 30 mét, rộng 5,8 mét chiều cao mạn 2,9 mét chở theo 44 tấn vũ khí đã rời Đồ Sơn vào Trà Vinh, chuyến đi an toàn và cập bến ngày 23-3-1963. Sau đó, 5 tàu vỏ sắt do Xưởng đóng tàu III đóng lần lượt hạ thủy và tiếp tục lên đường… Những con người làm nên huyền thoại Tôi đã đi dọc theo chiều dài đất nước, bóng dáng về những con người làm nên con đường huyền thoại trên biển Đông cứ sáng dần lên qua từng câu chuyện dù rằng những nhân vật đó hôm nay người còn, người mất. Ở TP Vinh là chuyện của Trưởng ban Liên lạc cựu chiến binh tàu “không số” Nghệ An- Nguyễn Đình Sin. Đến Cảnh Dương- Quảng Bình thì chuyện của cựu Thuyền trưởng- Đại úy Phạm Quốc Hồng. Vào Huế biết chuyện Vĩnh Mẫn (tức Phan Thắng), cựu Trưởng ban Tuyên huấn của Đoàn 125. Rồi là chuyện với nhóm cựu binh Lê Hà, Nguyễn Sơn, Mười Tiến (Huỳnh Văn Tiến) ở Bà Rịa- Vũng Tàu, những người cách nay nửa thế kỷ đã có mặt trên những chuyến tàu từ Bà Rịa, Bến Tre mở đường ra Bắc xin vũ khí. Là câu chuyện tưởng chừng không dứt của Đại tá Khưu Ngọc Bảy, cựu Trung đoàn trưởng 962 ở bến đón tàu, được lính tàu “không số” cả nước biết nhiều với cái tên thân mật- ông Bảy Nhỏ…  |
| Những con người làm nên Huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển. Ảnh: Hoàng Thu Vân |
Ông Nguyễn Xuân Thơm- Trưởng ban liên lạc Hội truyền thống tàu “không số” khu vực TP Hồ Chí Minh và các địa phương lân cận là một trong những người đầu tiên đón chiếc tàu Phương Đông 1 chở vũ khí từ miền Bắc vào cho đồng bào, chiến sĩ miền Nam ruột thịt. Ông Thơm quê ở Tân Tiến (Đầm Dơi, Cà Mau), 21 tuổi nhập ngũ, phiên chế đơn vị cơ động thuộc địa phương quân huyện Ngọc Hiển. Chính ông là một trong những người đầu tiên đón chiếc tàu Phương Đông 1 chở vũ khí từ miền Bắc vào cho đồng bào, chiến sĩ miền Nam ruột thịt. Rồi tiếp sau là Phương Đông 2, Phương Đông 3. Sau này ra Bắc, gia nhập Đoàn 759 (tiền thân của Lữ đoàn 125), ông Thơm được phiên chế trên tàu số 5 trong số 10 tàu sắt mới chở vũ khí vào Nam. Ngày 7-7-1963, ông đi chuyến đầu tiên vào Bến Tre. Đến tháng 9-1964, ông đã đi được 7 chuyến. Kể lại chuyện xưa, ông bảo : Đã 43 năm trôi qua. Không phải có độ lùi nhất định mà mình thấy giờ phút sinh tử ấy sao mà gấp gáp và bình thản. Gấp gáp vì thời gian hối thúc, bình thản vì không ai có thời giờ... nghĩ đến cái chết dù rằng mỗi lần anh em lên đường đều được làm lễ truy điệu... Trong ký ức nhiều người lính 125, rất có thể 43 là con số "đen". Tháng 3 năm 1967, tàu mang số hiệu trên đi Sa Kỳ, Quảng Ngãi, bị vây phải cho hủy. Anh em sống sót ra Bắc, nhận tàu mới vẫn "đeo" 43, kíp chỉ huy giữ nguyên: Thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng, Chính trị viên Trần Ngọc Tuấn. Gần một năm sau, họ lại vào Quảng Ngãi. "Kịch bản" hủy tàu, tiếc thay, vẫn phải diễn ra. Chiến tranh khắc nghiệt, sự may rủi, "đen"- "đỏ" nhiều khi rất gần nhau. “Mười hai chiến hạm và hàng chục hải thuyền Hoa Kỳ cùng quân lực Việt Nam Cộng hòa có phi cơ yểm trợ, đụng độ ác liệt với một tiểu đoàn Việt Cộng gan góc và thiện chiến trên con tàu chở vũ khí từ Bắc Việt thâm nhập và tiếp tế cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Họ đã nổ súng đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng và hy sinh với con tàu bằng khối lượng hàng tấn bộc phá do chính họ tự hủy, không để lại dấu vết”- ấy là lời “vinh danh” trên tạp chí Lướt sóng của Hải quân Sài Gòn cũ về sự kiện Hòn Hèo rạng sáng 1-3-1968. “Một tiểu đoàn Việt Cộng” thực chất là 20 chiến sĩ tàu 235 của Trung úy Thuyền trưởng Phan Vinh, chở 14 tấn vũ khí vào bến Hòn Hèo thuộc đất Ninh Hòa, cách Nha Trang (Khánh Hòa) 12km. Một nửa tàu đã văng lên núi Bà Nam, nửa kia chìm dưới biển, tức là không hoàn toàn “không để lại dấu vết” như Lướt sóng viết. Một câu chuyện hào hùng, bi tráng, còn in đậm trong tâm khảm người có tuổi vùng Hòn Hèo hôm nay… Có điểm gì chung giữa cánh ngư dân ăn sóng gội gió với những cựu binh tàu không số? Tôi cứ hay để ý đến bàn tay họ. Anh hùng LLVTND, Đại tá Nguyễn Đắc Thắng có kể lại trong hồi ký rằng, để cải trang làm ngư dân, lính không số tập vuốt chão, kéo lưới hàng tháng trời, đến khi bàn tay họ tơ tớp, lớp chai nọ đùn lớp chai kia... Trải qua bao thời gian, nay thảy đã lên tuổi ông bà nhưng đôi bàn tay họ vẫn rắn chắc, sần sùi. Rồi cũng bằng những đôi bàn tay ấy, cán bộ chiến sĩ Đoàn 962 (đơn vị phụ trách các cụm bến bãi thuộc Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh, Bà Rịa để tiếp nhận vũ khí từ tàu "không số") cùng những người dân bình dị đã dựng lên những “bến cảng” sát nách căn cứ của địch, đưa tàu vào đậu, hình thành các điểm chứa hàng, rồi từ đó chuyển vũ khí ra các chiến trường. Người dưới tàu, người trên bến, những đôi bàn tay của họ thật giống nhau đến lạ kỳ. Và còn một điểm chung nữa trong trái tim của những con người làm nên huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển đó là ý chí, niềm tin son sắt vào thắng lợi cuối cùng. “Chiến tranh là một thử thách!”. Nói thế không sai nhưng có lẽ là sáo rỗng với người trong cuộc. Có nhiều biến cố không tránh được. Cuộc xâm lược, chia cắt đòi hỏi sự hy sinh, lòng quả cảm. Khi trở về thì tuổi thanh xuân- cái tuổi đẹp đẽ nhất đã đi qua. Rất nhiều thứ phải làm lại từ đầu, mà có thứ không “làm lại" được. Cuộc sống thời bình, cũng là một "thử thách", dù ít hào hùng hơn nhưng không kém nghiệt ngã. Lòng tôi luôn ám ảnh bởi ánh mắt đượm buồn của bà Sáu Thùy, tức y tá Huỳnh Biên Thùy của Đoàn 962, vợ Đại tá Nguyễn Đắc Thắng, nguyên thuyền trưởng tàu "không số", Anh hùng LLVTND. Ông Thắng, bà Thùy có hai người con trai nhưng chưa có cháu nội dù đứa lớn lấy vợ đã 14 năm nay, còn đứa nhỏ thì xây dựng gia đình cũng đã được 4 năm. Cũng may mà cặp vợ chồng già này còn có 2 đứa cháu ngoại… Còn ở Bến Tre, buổi ngồi nhậu, bỗng dưng tôi hỏi chuyện gia đình của một cựu chiến binh tàu không số. Ông lẳng lặng không nói câu nào rồi nước mắt cứ lăn dài trên khuôn mặt dễ nhận thấy chưa một giờ phút thảnh thơi. Sau này tôi mới hiểu sự vô ý của mình… Chiến tranh đã qua đi, có người trở thành anh hùng, có người về đời thường với thương tật vĩnh viễn, có người nỗ lực vươn lên làm giàu, có người bạc đầu rồi vẫn chật vật với cơm áo... Và có những người đã ngã xuống để đất nước có ngày hôm nay. Họ đã đi qua những năm tháng không thể nào quên, dù ngày ấy cách nay đã nửa thế kỷ. Họ trở về đời thường một cách bình dị, nhưng đó chính là những ngọn nguồn thầm lặng của một thời tạo thành sức mạnh dân tộc, sức mạnh có thể chiến thắng mọi kẻ thù.
Hoàng Thu Vân