Cụ thể, Việt Nam xác định khởi nghiệp sáng tạo là chiến lược quốc gia dài hạn để tối ưu hóa, giải phóng mọi tiềm năng, huy động mọi nguồn lực để nâng cao năng lực tự chủ chiến lược quốc gia, nhất là hướng tới tự chủ các công nghệ chiến lược và tạo đà bứt phá cho tăng trưởng kinh tế - xã hội bền vững trong kỷ nguyên số.
Trong đó, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia được phát triển đồng bộ, toàn diện và bền vững; đồng thời, thể chế giữ vai trò tiên phong, kiến tạo và đột phá; phát triển hạ tầng, nhân lực và các điều kiện cần thiết khác hỗ trợ khởi nghiệp, hướng tới phát triển quốc gia số dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Chiến lược hướng tới mục tiêu bao trùm là hình thành làn sóng khởi nghiệp sáng tạo sâu rộng, đưa hoạt động này trở thành một động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội then chốt và thúc đẩy năng lực tự chủ quốc gia.
Trong đó, đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành quốc gia hàng đầu về khởi nghiệp sáng tạo trong khu vực. Phát triển tối thiểu 10.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong tổng số 5 triệu chủ thể kinh doanh; hình thành ít nhất 5 "kỳ lân" (doanh nghiệp được định giá từ 1 tỷ USD trở lên).
Quy mô thị trường vốn đầu tư mạo hiểm đạt 1,5 tỷ USD; 100% cơ sở giáo dục đại học và nghề nghiệp tích hợp nội dung đổi mới sáng tạo vào chương trình đào tạo; Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) lọt vào nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu toàn cầu về khởi nghiệp sáng tạo; tỷ lệ khởi nghiệp trong dân cư sẽ đạt mức cao (cứ 10 người dân có một người khởi nghiệp và khoảng 5.000 người dân có một doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo), với sự bùng nổ của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm quy mô lớn.
Để hiện thực hóa tầm nhìn vĩ mô, Chính phủ cũng chỉ đạo triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp mang tính mở đường, tập trung vào việc tháo gỡ điểm nghẽn và tiếp sức cho doanh nghiệp.