Lạ chưa: thầy giáo làm mẹ hiền!

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Xưa nay chỉ có cô giáo mầm non. Họa hoằn mới có một thầy. Vậy mà ở Mường Tè - một huyện khó khăn của tỉnh Lai Châu, lại có hơn 30 giáo viên mầm non là nam giới. Giữa điệp trùng núi rừng Tây Bắc, có hàng trăm người thầy đang làm mẹ hiền như thế.

Người đi mở lớp

Bản Pà Khà 2 ở xã Tà Tổng, huyện Mường Tè có 12 hộ dân người Mông. 12 hộ dân có 15 đứa trẻ. Vì họ sống biệt lập nên Trường Nậm Ngà phải mở một lớp mầm non.

 

Thầy giáo Vàng Văn Vũ dạy múa cho các em ở điểm trường Tà Tổng.
Thầy giáo Vàng Văn Vũ dạy múa cho các em ở điểm trường Tà Tổng.

Cô Đỗ Lan Hương, hiệu trưởng Trường mầm non Nậm Ngà, giới thiệu vắn tắt: "Phụ trách lớp là thầy Lò Văn Tiển. Thầy không chỉ là giáo viên cắm bản mà còn là người đi mở lớp".

Ở bản này, thầy Tiển vừa là giáo viên kiêm bảo mẫu, kiêm thầy thuốc, kiêm nhiều thứ khác để chăm lo cái lớp mầm non ấy.

Con đường chính từ trung tâm xã Tà Tổng về cụm bản trung tâm Nậm Ngà gần 40km, thì quá nửa chặng đường này là đường đất trơn trượt, dốc lên dốc xuống. Ngày mưa, để đến được Nậm Ngà là một sự vất vả, cơ cực.

Mất mấy giờ đánh đu trên những cung đường dốc đứng, hết té nhào vì bùn trơn lại chúi xuống ngầm sâu, lổn nhổn đá hộc bên dưới, chúng tôi mới tới được Pà Khà 2. Với các thầy cô giáo ở đây, đó là "chuyện thường ngày ở bản".

Khi chúng tôi có mặt tại điểm Pà Khà 2 cũng là lúc thầy Tiển vừa cho 15 trẻ ăn xong bữa trưa. Cả lớp ăn xong, Tiển xếp các tấm ván gỗ mỏng xuống nền đất lạnh, trải chiếu, sắp xếp chỗ nằm cho 15 đứa trẻ, đắp chăn cho từng đứa.

Trước khi theo nghề dạy trẻ, Tiển có hai năm nghĩa vụ quân sự, làm lính biên phòng đóng ở đồn Pa Ủ. Hồi nhỏ Tiển đã rất thích con nít. Đi bộ đội, tiếp xúc với những em bé vùng biên, Tiển càng muốn sau này mình sẽ đi dạy học cho những đứa trẻ này.

Năm 2012, tốt nghiệp khoa mầm non Trường CĐ Sư phạm Thái Nguyên, Tiển trúng tuyển và được phân về một trong những điểm trường khó khăn nhất của Nậm Ngà - điểm trường Ti Ma Mủ.

Điểm trường Ti Ma Mủ khi đó chưa có đường, chỉ có đi bộ thôi. Giờ đã có đường xe máy nên đi chỉ mất hơn một giờ, chứ trước đó Tiển phải cuốc bộ hơn nửa ngày.

Năm năm vào nghề, cứ mỗi năm mỗi bản, mà toàn là bản khó khăn nhất. Năm ngoái dạy ở bản U Pa Tết, xa nhất, khó khăn nhất, thầy Tiển quá "cô đơn" nên đã xin chính quyền, nhà trường được đón vợ từ dưới Mường Tè lên ở cùng.

Bài học đầu tiên...

Ở Trường mầm non Tà Tổng 1 có thầy Phóc - Điêu Văn Phóc. Năm 2012 Phóc về Trường mầm non xã Tà Tổng, điểm trường A Mé, xa nhất xã. Từ xã lên A Mé hơn 40 cây số đường rừng. Không biết đi xe máy nên Phóc cứ cuốc bộ, mất chừng 1 ngày đường. Có khi đêm hôm trễ đường, phải ngủ nhờ nhà dân.

 

Xong bữa trưa, thầy Tiển lo giấc ngủ trưa cho các em.
Xong bữa trưa, thầy Tiển lo giấc ngủ trưa cho các em.

Chứng kiến những em bé Mông, Hà Nhì... mới 3-4 tuổi bập bẹ nói được tiếng Việt mới thấy đây là một nỗ lực kinh khủng của ngành giáo dục. Bởi một rào cản lớn nhất để các em bé vùng cao đi học và sau này học lên chính là ngôn ngữ.

Đi học càng muộn, rào cản ấy càng khó vượt qua. Một cô giáo nói: "Chỉ cần xong cấp học mầm non, các em biết hát được vài bài hát tiếng Việt, gọi tên các đồ vật bằng tiếng phổ thông là coi như thành công".

Vì thế, những lớp mầm non trên rẻo cao heo hút này, trước hết là để các em làm quen với ngôn ngữ, tập cho em những ý thức văn minh nho nhỏ, để từ đó khi vào tiểu học các em sẽ tự tin hơn, không quá khó khăn như các thế hệ trước đó.

Thầy Phóc bảo không riêng gì học sinh cần học tiếng Việt mà thầy giáo cũng phải nỗ lực học tiếng Việt. Thầy giáo mầm non trên này hầu hết là người dân tộc thiểu số, có người dân tộc Thái, có người dân tộc Giáy nên tiếng Việt của mình cũng còn cố gắng, dạy cho các em cũng chính là một cách học cho mình.

Thầy Lò Văn Hiếu, giáo viên mầm non ở điểm trường Tia Ma Mủ (thuộc khu vực Nậm Ngà), nói dạy tiếng phổ thông đã khó, chăm sóc sức khỏe cho bọn trẻ còn khó hơn.

"Ở vùng sâu nên một số tộc người có cách sống, sinh hoạt rất khác thường. Có lần mình thấy mấy đứa trẻ mắt đỏ nên mình lấy lọ nước muối loãng nhỏ cho chúng... Hôm sau, mắt trẻ đỡ hơn, nhưng bố mẹ trẻ lại lên trường dọa kiện, vì dám nhỏ thứ nước lạ vào mắt bọn trẻ...".

Thầy Hiếu cũng bộc bạch: "Vì trẻ ăn mặc phong phanh, thời tiết vùng cao biên giới thường khắc nghiệt, luôn thay đổi nên chúng dễ nhiễm lạnh, cảm cúm. Nhà trường không có tủ thuốc nhưng các thầy vẫn có một số thuốc thông dụng để phòng thân.

Khi biết trẻ hơi sốt, cần phải uống thuốc hạ sốt cũng không dám cho vì sợ phụ huynh... kiện. Thành ra, cứ mỗi khi trẻ sốt, thầy lại phải gọi phụ huynh đến giải thích, và cũng chỉ dám hướng dẫn phụ huynh đưa con về nghỉ, lấy khăn ấm lau người và lấy khăn mát đắp lên trán".

Thầy giáo Lò Văn Hiếu còn nhớ mãi "tai nạn" nghề nghiệp một năm trước. Một mình lo quản gần 40 trẻ người Mông vô cùng hiếu động, nên trong giờ hoạt động ngoài trời, một bé người Mông 5 tuổi đã trèo lên cây rồi bị ngã sái tay.

Hiếu muốn kiểm tra, xử lý tại chỗ, ít nhất là cố định cái tay, nhưng gia đình trẻ kiên quyết không cho các thầy động vào, lại cứ liên tục "bắt đền thầy giáo".

Hiếu cùng một thầy bên trường tiểu học phải ôm đứa trẻ đi gần hai giờ về trạm y tế xã để xử lý, còn phụ huynh cứ ngồi tại trường chờ bắt đền thầy, mặc cho những đứa trẻ khác ngơ ngác, khóc lóc lo sợ thầy đi mất.

Những nỗi niềm

Ở Mường Tè, trong khi thầy Phóc, thầy Tiển mỗi năm đi cắm một bản thì thầy Lý Văn Xanh lại có đến 6 năm chỉ cắm duy nhất tại bản Nhóm Pố. Đấy là một bản xa nhất của Tá Pạ mà Tá Pạ là xã xa xôi nhất của Mường Tè.

Thầy Xanh kể 6 năm trời ở Tá Pạ, dù cùng trong một huyện nhưng số lần về nhà ở Bum Nưa chỉ đếm trên đầu ngón tay. Có khi 1-2 tháng chỉ về trường chính ở trung tâm xã một lần. Đường đi khó khăn, mỗi lần về xã trở lại điểm trường là thồ một bao lớn nào gạo, muối, cá mắm, thịt ruốc...

Bản không có đường, không có điện lưới, điện thoại cũng không. Phương thức liên lạc duy nhất với trường chính là thư tay. Mỗi lần nhà trường cần thông báo hay họp hành gì thì một tuần trước đó phải hỏi khắp xã xem có ai vào bản để nhờ chuyển thư.

Những khó khăn của thầy Xanh ở Nhóm Pố được "bù đắp" đáng kể nhất là thầy đã... có được vợ khi cắm bản ở Tá Pạ, là cô giáo Đào Thị Hinh.

Sau bao năm cắm bản, thầy Xanh bảo "tất cả vẫn như cũ". Điểm trường cũng như bà con dân bản, vẫn không có điện, không có sóng điện thoại, nước thì khan hiếm, ngày mưa lên đó chỉ có cách là đi bộ. Con cái thì để ông bà nuôi, tiền một nửa hai vợ chồng chi tiêu, một nửa gửi cho ông bà nuôi con.

"Còn nhớ con thì sao?". "Thì cũng chỉ nhớ thôi, đợi dịp tết và hè...".

Lê Đức Dục-Đức Bình/tuoitre

Có thể bạn quan tâm

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Hành trình lạc lối sau giấc mơ đổi đời

Hành trình lạc lối sau giấc mơ đổi đời

(GLO)- Tin vào những lời hứa hẹn về cuộc sống sung túc và cơ hội định cư ở nước thứ ba, nhiều người dân ở Gia Lai đã vượt biên sang Thái Lan. Những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, ly tán là cái giá đắt cho lựa chọn sai lầm, đồng thời là lời cảnh tỉnh về hệ lụy của di cư trái phép.

null