Gieo giá đỗ ven sông Lại

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Người dân ở đây không làm giá đỗ như các nơi khác là ủ giá trong thùng, trong chum, trong thạp, mà gieo trực tiếp đậu xanh xuống những hầm đất cát mịn ven sông Lại. Làm giá đỗ theo cách này sợi giá có màu trắng tinh khiết, mọng vị ngọt.
Vùng đất bãi bồi ven sông Lại, con sông lớn thứ 2 ở tỉnh Bình Định được hợp thành từ 2 dòng sông An Lão và Kim Sơn chảy qua địa bàn huyện Hoài Nhơn, trải dài từ bờ Bắc đến bãi bồi An Đông thuộc khối 1 (thị trấn Bồng Sơn), tưởng như nằm đó để đến những mùa mưa bão là oằn mình “gánh” những đợt lũ.
Nhưng không, khi mùa lũ đi qua, vùng đất bãi bồi này bỗng trở nên sinh động với cái nghề truyền thống của người dân sống ven sông Lại. Cái nghề suốt ngày “vật lộn” với đất mịn để bắt những hạt đậu xanh “đẻ” ra những cọng giá nõn nà. Rồi những cọng giá hóa thành tiền “xây nhà, sắm xe” cho những người làm ra nó.
 
Đào hầm ven sông Lại chuẩn bị gieo giá đỗ
Hàng ngày, khi nắng chiều xuống dần, những vùng đất bãi bồi ven sông lại bỗng trở nên rộn ràng tiếng nói cười của những người dân kéo nhau đi làm giá đỗ. Bà Nguyễn Thị Út (45 tuổi), 1 trong số gần 20 hộ dân ở xóm giá An Đông thuộc thị trấn Bồng Sơn (huyện Hoài Nhơn), vừa vung vẩy đôi giỏ sắt bên trong giỏ đựng khoảng chục cái rổ sảo được đan bằng tre, vừa trò chuyện: “Nghề gieo giá đỗ trên những vùng đất bãi bồi ven sông đã gắn bó với người dân sinh sống ven sông Lại từ lâu đời, là nghề truyền thống “cha truyền con nối” của chúng tôi. Nghề này không nặng nhọc, nhưng cứ như chăm con mọn, không có thời gian ngơi nghỉ. Bù lại, ngày nào người làm giá cũng cầm được tiền, khoản tiền mà người làm nghề lao động phổ thông mơ cũng không có, nó giúp cho những người làm nghề vươn lên khá giả, có cuộc sống ổn định”. Tư liệu sản xuất của nghề gieo giá đỗ ven sông không có gì nhiều, mỗi gia đình chỉ cần vài đôi giỏ sắt, chục rổ sảo tre, vài cây cuốc cây xẻng. Cuốc xẻng dùng để đào hố; giỏ, rổ dùng để đựng và rửa giá trong những công đoạn gieo và thu hoạch. Theo bà Lê Thị Thành (51 tuổi) ở thôn An Đông, thành viên của 1 gia đình có 3 đời làm nghề gieo giá đỗ ven sông Lại, chia sẻ: “Muốn đậu xanh cho ra những cọng giá chất lượng và đạt năng suất cao, các công đoạn chọn đậu xanh, ngâm, ủ đậu trước khi gieo vào hầm cũng phải có “bí quyết gia truyền”, để khi mình khui hầm thì giá cũng vừa lên đúng tầm thu hoạch, cọng giá không non cũng không già. Phần đệm phủ cát từng lớp tạo độ ẩm cho hầm để giá mọc đều và không bị xoắn cục cũng là khâu việc không kém phần quan trọng, quyết định sự thành bại của mỗi đợt gieo. Nếu hầm thiếu độ ẩm, khi thu hoạch giá sẽ bị gãy nhiều vì thân khô, cọng giá thừa nước dẫn đến mềm thân, thối gốc”.
Thấy tôi “lơ ngơ” ra vẻ chưa “hiểu nghề” lắm, ông Huỳnh Quang Quốc (55 tuổi), người có thâm niên trên 20 năm làm nghề này, tiếp lời: “Để có rau cung cấp thường xuyên mỗi ngày, chúng tôi phải dựa trên đặc điểm sinh trưởng của giá để bố trí gieo đậu xanh theo cách gối đầu. Hôm nay thu hoạch hầm này xong, tiếp tục gieo xuống; hôm sau thu hoạch hầm khác lại tiếp tục gieo xuống, việc thu hoạch và gieo mới cứ làm theo kiểu “cuốn chiếu”.
 
Những cọng giá trắng muốt chen nhau mọc lên
Để tránh cho cọng giá bị vàng ố bởi nhiễm những hạt bùn lẫn trong cát, bãi gieo phải được chọn là vùng đất phù sa mịn, không nhiễm phèn và phải cao hơn mặt nước sông. Mỗi hầm thường có đường kính 0,5 - 0,6m; sâu không quá 0,6m, nếu hầm có kích cỡ lớn hơn thì sẽ gây khó cho công đoạn gieo và thu hoạch. Gieo hạt đậu xanh được chia thành nhiều đợt, mỗi đợt cách nhau từ 3 - 4 ngày, mỗi lần gieo từ 10 đến 15 hầm. Mỗi hầm chỉ gieo 1kg đậu xanh là vừa đủ cho ra 8 - 9kg giá thành phẩm.
Để đảm bảo sản lượng và chất lượng, người làm nghề phải thường xuyên thay cát ủ hầm, sử dụng nguồn nước thật sạch để tạo độ ẩm, nếu không hạt đậu sẽ thiếu chất dinh dưỡng chậm phát triển, sản lượng thấp, chất lượng rau dai, nhạt nhẽo”.
Những gia đình có diện tích đất bãi bồi ven sông Lại đã được Nhà nước cấp quyền sử dụng lâu dài thì việc hành nghề gieo giá đỗ được ổn định, những hộ đất ít hoặc không có đất mà có nghề thì họ làm giá theo kiểu “du canh”.
 
Thu hoạch giá
Ví như cặp vợ chồng Dung - Hạ ở khối 4 (thị trấn Bồng Sơn). Diện tích đất bãi bồi ven sông của gia đình này được Nhà nước thu hồi để xây dựng đê ngăn mặn giữ ngọt cho sông Lại, nhưng đôi vợ chồng này vẫn gắn bó với nghề gieo giá đỗ ven sông. Hàng ngày, vào mùa nước sông cạn, vợ chồng anh chọn những cồn cát nổi ven sông làm nơi gieo giá. Ở mỗi nơi, vợ chồng anh gieo 2 đợt, rồi gồng gánh giỏ rổ cuốc xẻng di chuyển sang vị trí khác để tiếp tục công việc.
Tuy việc hành nghề không ổn định, nhưng kiểu gieo giá đỗ “du canh” cho sản lượng và chất lượng giá cao hơn so với những hộ sản xuất cố định. Chia sẻ kinh nghiệm, anh Hạ bày tỏ: “Lợi thế làm theo kiểu “du canh” là lúc nào cũng được làm trên đất mới, vừa không phải mất công thay đất mà giá cho chất lượng và sản lượng cao hơn những người làm giá cố định trên 1 vùng đất. Tuy nhiên, người có đất cố định thì vào mùa mưa họ che chắn và đào rãnh thoát nước thì vẫn có thể sản xuất, còn làm kiểu “du canh” thì chịu, mùa mưa tới là “gác” đồ nghề”.
Những người hành nghề gieo giá đỗ ven sông Lại làm việc quần quật cả ngày lẫn đêm. Chiều về, họ vệ sinh hầm để tối đến làm sạch đậu rồi ủ qua nước để tạo độ ẩm trước khi cho vào hầm gieo theo chu kỳ. Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng là cả gia đình có mặt tại bãi bồi để thu hoạch, sao cho vừa tờ mờ sáng là có giá chở đi giao cho khách hàng. Cái nghề gieo giá đỗ ven sông Lại khổ sở là vậy, nhưng bù lại nó cho những người làm nghề khoản thu nhập khá cao.
 
Chuẩn bị gánh giá đi tiêu thụ
Chị Nguyễn Thị Toàn (49 tuổi), tính toán: “Cứ 1kg đậu xanh hạt cho ra khoảng 8kg giá. Trung bình mỗi ngày tôi gieo từ 15 - 20kg đậu xanh, mỗi kg đậu xanh hạt hiện có giá 40.000đ, sau khi gieo sẽ cho ra từ 140 - 150kg giá, bỏ sỉ 8.000 đồng/kg. Như vậy, sau khi trừ chi phí vốn gốc, tiền điện bơm nước, xăng xe đi bỏ mối và hao hụt trong khi thu hoạch, mỗi ngày gia đình cũng có thu nhập trên 400.000 đồng từ nghề làm giá”.
Những người có mối hàng ngoài tỉnh có mức thu nhập còn cao hơn, như ông Trần Văn Lành (52 tuổi) làm giá trên vùng bãi bồi An Đông. Mỗi ngày, ông Lành thu hoạch giá từ 19 giờ đến 23 giờ tối, đến 4 giờ sáng hôm sau ông chở giá ra Sa Huỳnh (huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi) giao cho mối hàng. Ông Lành bày tỏ: “Tôi có bạn hàng ở Sa Huỳnh hơn 10 năm nay, tiêu thụ giá ở thị trường này rất ổn định, chưa bao giờ bị “dội hàng”. Trung bình mỗi ngày tôi bỏ mối ở đây trên 200kg giá, lợi nhuận hơn một nửa, dù đường vận chuyển có xa hơn nhưng việc làm ăn luôn thuận lợi nên rất vui và ham làm”.
 
Mới tờ mờ sáng, giá đỗ sông Lại đã được đưa ra bày bán
“Trước đây trên địa bàn có 50 hộ có nghề truyền thống gieo giá đỗ ven sông Lại, do đất bị thu hẹp dần nên giờ còn khoảng 20 hộ, mỗi ngày xuất bán ra thị trường khoảng trên 1.000kg giá đỗ. Nghề này ngoài giúp cho các hộ làm nghề có của ăn của để, xây dựng nhà cửa khang trang, nuôi con cái học hành đến nơi đến chốn, mà còn góp phần tạo ra nguồn rau sạch cung ứng ổn định cho thị trường trong và ngoài huyện”, ông Trần Đức Huy, Khối trưởng khối 1 (thị trấn Bồng Sơn), cho hay.

Vũ Đình Thung (Nông Nghiệp Việt Nam)

Có thể bạn quan tâm

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Trường mới ở vùng biên

Trường mới ở vùng biên

(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

null