Gian nan hành trình "gieo chữ" vùng sâu-Kỳ 1: "Chênh vênh" trường lớp vùng sâu

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Những giáo viên “mang chữ lên non” ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn như Nam Ka, Ea R’bin (huyện Lắk) vốn đã lắm bấp bênh, thử thách; nay trong bối cảnh đại dịch COVID-19 khiến công tác giảng dạy và học tập hầu như bị xáo trộn, hành trình “gieo chữ” ấy lại gian nan, gập gềnh hơn bao giờ hết.
Những năm gần đây, mặc dù được quan tâm đầu tư xây dựng khá cơ bản, song hạ tầng giáo dục ở một số trường học trên địa bàn huyện Lắk vẫn còn rất nhiều khó khăn.

Đường vào buôn Lách Ló, xã Nam Ka (huyện Lắk) - nơi đứng chân điểm Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng.
Đường vào buôn Lách Ló, xã Nam Ka (huyện Lắk) - nơi đứng chân điểm Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng.
Điểm trường giữa rừng đặc dụng
Một ngày cuối tháng 9, theo chân hai cán bộ kiểm lâm rừng đặc dụng Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Ka, chúng tôi có dịp “mục sở thị” điểm Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng đứng chân tại buôn Lách Ló, xã Nam Ka. Trên quãng đường dài khoảng 15 km từ trung tâm xã Nam Ka đến điểm trường này, có đến nửa chặng đường phải đi bộ vì đường đèo dốc, trơn trượt.
Anh Phạm Văn Phú, kiểm lâm viên ở xã Nam Ka cho biết, đây là một trong những điểm trường khó khăn nhất và có ít học sinh nhất của xã Nam Ka nói riêng, huyện Lắk nói chung. Mùa khô việc đi lại đã khó khăn, mỗi khi mưa đến thì chấp nhận đi bộ hoặc “cắm buôn” trong này. Đường đến điểm trường phần lớn là những lối mòn, nhiều con dốc dựng đứng, xe máy phải "độ" xích mới vượt qua được quãng đường từ trung tâm vào buôn Lách Ló.

Cán bộ, giáo viên Trường THCS Trần Quốc Toản (xã Ea R’bin, huyện Lắk) trên đường vận động học sinh tới trường.
Cán bộ, giáo viên Trường THCS Trần Quốc Toản (xã Ea R’bin, huyện Lắk) trên đường vận động học sinh tới trường.
Sau hơn một giờ “cuốc bộ”, điểm Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng dần xuất hiện trước mắt. Đó là một nhà cấp 4 nằm lọt thỏm giữa rừng đặc dụng của Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Ka, chỉ vỏn vẹn có hai phòng học cho khối lớp 1 và khối lớp 3. Thời điểm chúng tôi có mặt trúng dịp khối tiểu học chưa học tập trung nên ngôi trường im lìm vắng bóng. Nếu không có cán bộ kiểm lâm chỉ dẫn thì không thể nhận ra đó là một điểm trường bởi không có biển gắn tên trường.
Phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Lắk cho biết, năm học 2021 - 2022, toàn huyện có 44 trường học, với tổng số 613 phòng học, trong đó 347 phòng học kiên cố, 257 phòng học bán kiên cố và 9 phòng mượn tạm. Với 1.226 cán bộ, giáo viên, nhân viên toàn ngành, trong đó một số điểm trường ở xã vùng sâu, vùng xa như Nam Ka, Ea R’bin, Đắk Nuê, nhu cầu ở nhà công vụ của giáo viên khá cao, trong khi số lượng nhà công vụ còn ít và chưa đáp ứng về diện tích, chất lượng.
Theo thầy Y Krang Pang Pế, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng, điểm trường lẻ Tiểu học Nơ Trang Lơng tại buôn Lách Ló có từ năm 2004, với một phòng học dựng bằng gỗ ghép. Đến năm 2019 mới được xây dựng và tu sửa lại thành nhà cấp 4 kiên cố. Năm học 2021 - 2022, điểm trường có 16 học sinh, gồm 7 học sinh lớp 1 và 9 học sinh lớp 3. Để duy trì các lớp học tại đây, trường bố trí một giáo viên vừa giảng dạy, vừa quản lý học sinh.
Thư viện làm... nhà công vụ
Không chỉ khó khăn về cơ sở vật chất lớp học, nhu cầu về nhà công vụ cho cán bộ, giáo viên ở các điểm trường tại các xã Nam Ka, Ea R’bin cũng thiếu thốn trăm bề.
Đóng tại địa bàn xã Ea R’bin, Trường Tiểu học Ngô Gia Tự có 18 cán bộ, giáo viên, trong đó có 11 giáo viên xa nhà phải ở nhà công vụ. Tuy nhiên, hiện tại trường chỉ có 3 phòng công vụ, mỗi phòng khoảng 20 m2, là nơi sinh hoạt của 3 giáo viên sau giờ giảng dạy, 2 giáo viên còn lại phải mượn tạm phòng thư viện để làm nhà công vụ. Vào dạy hợp đồng tại trường hơn một năm nay, nhà ở tận xã Yang Tao, cách điểm trường đang dạy hơn 60 km, hai cô giáo H’Xuân Mlô và H’Saly Long Ding không thể sáng tối đi về. Song nhà công vụ tại trường không đáp ứng đủ cho giáo viên nên hai cô phải mượn phòng thư viện ở tạm. Phòng tạm, phòng mượn chật chội nên mọi đồ dùng, vật dụng hai cô đều phải hạn chế mua sắm. Ở đây, việc sinh hoạt cá nhân hết sức bất tiện, khu vực tắm rửa cũng phải tận dụng khu nhà vệ sinh của học sinh tại trường. Cô giáo H’Saly Long Ding tâm sự, do nhà xa nên hai cô phải ở lại nhà công vụ tạm bợ. Cuộc sống của giáo viên hợp đồng, lương "ba cọc ba đồng" nên còn nhiều chật vật. Tá túc ở nơi này tuy có phần vất vả, nhưng bớt được một khoản lớn chi phí xăng xe đi lại.

Tận dụng phòng kho cũ kĩ làm phòng công vụ của giáo viên Trường Mầm non Hoa Phượng.
Tận dụng phòng kho cũ kĩ làm phòng công vụ của giáo viên Trường Mầm non Hoa Phượng.
Nằm cạnh Trường Tiểu học Ngô Gia Tự, tại Trường Mầm non Hoa Phượng, những giáo viên xa nhà cũng phải chật vật với nơi nghỉ ngơi sau mỗi buổi đến lớp. Trường có 10 giáo viên thì có hai giáo viên xa nhà nên phải ở lại. Nơi tá túc của hai giáo viên này được tận dụng từ một phòng kho cũ kĩ, lụp xụp với những mảng tường bong tróc, rêu bám chằng chịt. Chiếc giường, nơi ngả lưng sau mỗi tối soạn bài của hai cô giáo được dựng nên từ vài tấm gỗ mỏng, chân giường là những viên gạch kê tạm. Cô giáo H’Bin Hlong bộc bạch, nhà kho này có từ mấy chục năm trước, mọi thứ trong căn phòng này đều đã xuống cấp. Song có còn hơn không, bởi ở một xã vùng sâu, vùng xa này, muốn thuê một phòng để ở cho đàng hoàng cũng không dễ gì kiếm được. Những ngày mưa to, gió lớn, căn phòng dột tứ bề, nước men theo bờ tường chảy xuống ướt sũng nền nhà, đồ dùng, vật dụng đều ẩm mốc. Cô và đồng nghiệp chỉ mong rằng, chính quyền địa phương các cấp sớm xem xét xây nhà công vụ cho giáo viên xa nhà để có nơi sinh hoạt, nghỉ ngơi sau mỗi giờ đứng lớp, để an tâm công tác giảng dạy và gắn bó lâu dài với trường.
(Còn nữa)
Kỳ 2: Nhọc nhằn đi tìm con chữ
Khánh Huyền (baodaklak.vn)

Có thể bạn quan tâm

Nơi suối tìm về phố

Nơi suối tìm về phố

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ trôi qua, dòng suối Hội Phú đã đi qua những cây cầu ván chông chênh, những khu vườn, xóm nhỏ, rồi có lúc trở thành “dòng nước đen” giữa lòng phố núi Pleiku. Sau 6 năm công trường phủ bụi đỏ, một tuyến kè được hình thành.

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

null