Chuyện thú vị về cây nêu

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Với người Việt, cây nêu là cột mốc chủ quyền, là lá bùa trấn trạch trong mỗi gia đình, mỗi con người trước cái ác, cái đen tối, xấu xa. Đó là biểu tượng đem đến sự may mắn, an lành trong một năm mới!
 Ảnh: K.N.B
Ảnh: internet
1.Theo truyền thuyết của người Việt, cây nêu là ý chí chủ quyền đất đai trước quỷ dữ. Xa xưa, quỷ và người lẫn lộn. Quỷ thường tranh đất, đòi con người cống nạp nông sản. Người lam lũ quanh năm không đủ ăn, lại bị trấn lột muôn phần. Đó là cuộc đấu tranh lâu dài giữa cái thiện và cái ác. Trong cuộc đấu tranh khó phân thắng bại ấy, một ngày người được Phật tổ bày cho kế sách đàm phán với quỷ. Theo kế đó, người chỉ lấy phần đất được che bóng bởi chiếc áo cà sa treo trên ngọn tre. Tưởng vậy là quá ít, chẳng đáng phải lo ngại, quỷ gật đầu ưng thuận ngay. Đến khi ra thực địa, Phật đã giúp cho bóng áo cà sa trải rộng khắp nơi. Hết đất, cùng đường quỷ phải trốn ra bể Đông, với lời cầu xin, ngày Tết thì cho quỷ mò về thăm mồ mả tổ tiên.
Từ đó, người Việt có tục “lên nêu” (còn gọi là trồng cây nêu) vào ngày 23 tháng Chạp. Người ta chọn cây tre cao 5-6 m, róc sạch cành để một túm lá tận cùng ngọn. Tre được chôn chặt gốc xuống đất. Trên nêu treo phướn có ghi câu đối đỏ, một số vật dụng, ngoài ra còn treo khánh đất phát âm thanh như chuông gió, khẳng định lãnh thổ chủ quyền. Đó là cây nêu đuổi quỷ, cây nêu phân định ranh giới, báo cho tà quỷ biết đất đã có chủ, không được đến quấy nhiễu... Đây là một phong tục có hàm nghĩa triết lý sâu xa. Cây nêu với sắc màu và âm thanh đặc trưng đã góp phần làm cho ngày Tết của người Việt thêm hương vị ấm áp. Nó tạo cho mỗi gia đình một niềm tin ở những điều an lành tốt đẹp.
2.Ở Tây Nguyên, các dân tộc thiểu số lại dùng cây nêu phổ biến trong các lễ hội. Cây nêu thường là một thân cây lồ ô hoặc cây gỗ cao, có khắc hoa văn. Bốn bên có bốn trụ thấp hơn, thường là cây pơ lang, chôn rất vững chắc, trên đó gắn bốn cây le, có tua hoa. Đây là cột giao cảm giữa người và thần linh.
Trong nhiều lễ hội Tây Nguyên, thường có đâm trâu. Mỗi cuộc đâm trâu như vậy luôn để lại những cây pơ lang. Cây sẽ sống, đâm rễ xuống đất, vươn cành xanh lá lên trời. Tháng ba, pơ lang trổ hoa đỏ cả lưng đồi, mời gọi chim chóc về buôn làng ca hát. Ở đâu có nhiều cây pơ lang, ở đó cuộc sống của dân làng thực sự sung túc. Vì vậy, pơ lang là niềm tự hào của cả khu dân cư. Cũng vì vậy, pơ lang trở thành một thứ cây đơm hoa mùa xuân gần gũi ấm áp trong lòng dân Tây Nguyên qua nhiều thế hệ!
3. Nhân đây, kể thêm chuyện người Trung Quốc, từ cổ đại đã biết dùng “cây nêu đo bóng” (khoảng 800 năm trước Công Nguyên). Từ cây nêu thẳng đứng được gắn vào một tấm đồng, có rãnh nước cân mặt bằng, gọi là “thổ khuê”, người ta đã làm ra rất nhiều công chuyện kỳ tài. Với cây nêu ấy, họ có thể đo bóng để định giờ trong ngày, như một chiếc đồng hồ khá chính xác với những ngày nắng. Cũng từ đó, họ có thể xác định được ngày Đông chí, Hạ chí, Xuân phân, Thu phân. Họ có thể tạo cơ sở để làm lịch số. Cũng với cây nêu, họ có thể tính được độ lệch của Đường Hoàng Đạo.
Đặc biệt, với cây nêu, họ có thể đo bóng để xác định chiều cao từ mặt đất lên mặt trời (theo cách tính các cạnh tam giác vuông). Người ta tính cứ 1.000 dặm về Nam, bóng nêu (trên cùng 1 kinh tuyến) giảm 1 tấc. Đến lúc không còn bóng mặt trời, đó là điểm thẳng đứng với mặt trời. Từ đó người ta tính được khoảng cách giữa mặt đất và mặt trời là 100.000 dặm...! Đặc biệt hơn, người ta còn đo bóng cây nêu để tính khoảng cách giữa các tỉnh thành trên toàn cõi. Người Trung Quốc cổ đại cho rằng, một tấc bóng, tương đương 1.000 dặm. Họ còn dùng cây nêu để biết được trời sao.
 PHẠM ĐỨC LONG

Có thể bạn quan tâm

Tiếp sức cho nghệ thuật truyền thống

Tiếp sức cho nghệ thuật truyền thống

(GLO)- Nghị quyết số 19/2026/NQ-HĐND được HĐND tỉnh Gia Lai thông qua ngày 24-4-2026 (có hiệu lực từ ngày 4-5-2026) với nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể cho nghệ thuật truyền thống, được kỳ vọng tạo thêm động lực cho đội ngũ nghệ sĩ, nghệ nhân, các đoàn nghệ thuật hiện có và gầy dựng lực lượng kế cận.

Thơ Phan Trung Lý: Nhớ Quy Nhơn

Thơ Phan Trung Lý: Nhớ Quy Nhơn

(GLO)- “Nhớ Quy Nhơn” của Phan Trung Lý là dòng hoài niệm đầy cảm xúc về miền biển thi vị với sóng biển, Ghềnh Ráng, dốc Mộng Cầm và dấu xưa Hàn Mặc Tử. Bài thơ gợi lên vẻ đẹp dịu dàng, sâu lắng của Quy Nhơn - nơi cảnh sắc và thi ca như hòa vào nhau trong nỗi nhớ khôn nguôi.

Chạm vào bình yên nơi quê Bác

Chạm vào bình yên nơi quê Bác

(GLO)- Mười hai năm làm dâu xứ Nghệ, tôi không nhớ mình đã bao lần đi qua xã Kim Liên để về nhà chồng. Chỉ biết rằng, mỗi lần ngang qua biển chỉ dẫn vào Khu di tích lịch sử Kim Liên, lòng tôi lại khẽ reo lên như thấy một dấu mốc đặc biệt: “Về đến quê Bác rồi…”. 

Thơ Phạm Thanh Dũng: Thăm vườn tượng suối Hội Phú

Thơ Phạm Thanh Dũng: Thăm vườn tượng suối Hội Phú

(GLO)- Giữa không gian xanh mát của suối Hội Phú, những tác phẩm điêu khắc mang đậm hơi thở Tây Nguyên như đang kể câu chuyện về con người, văn hóa và nhịp sống đại ngàn. Bài thơ “Thăm vườn tượng suối Hội Phú” là hành trình cảm xúc đầy chất thơ giữa nghệ thuật và thiên nhiên phố núi.

Những đóa hoa lòng

Những đóa hoa lòng

(GLO)- Khi nghĩ đến những dòng chữ ấy, tôi không có ý định đặt một tựa đề ẩn dụ cho tín niệm nào cả. Chỉ là, những ngày tháng 5 bắt đầu oi ả cứ thôi thúc tôi nhớ về khu vườn nhỏ xanh mát ở quê nhà. Dẫu gần hay xa, hiện hữu trong không gian hay ký ức vẫn thấp thoáng trong tôi những đóa hoa lòng.

Siu Quý - Cánh chim tìm về

Siu Quý - Cánh chim tìm về

(GLO)- Giới mỹ thuật phố núi không còn ngạc nhiên khi thấy họa sĩ Siu Quý đi về liên tục giữa TP Hồ Chí Minh và Pleiku. Một nơi ông lập nghiệp, một nơi là quê hương. Như cánh chim tìm về, ông đang tích cực kết nối để tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa tại vùng đất mình sinh ra, lớn lên.

null