Những người đi hát sắc bùa

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Hai “lão làng” là ông Trần Biểu (83 tuổi) và ông Huỳnh Tròn (78 tuổi), cùng xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, dắt nhau đi khắp thôn, làng tham gia các chương trình biểu diễn, không kể ngày đêm, chỉ mong tiếp tục lưu giữ điệu hát sắc bùa.

Bốn ông cái chủ chốt của đoàn hát sắc bùa xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi biểu diễn hát sắc bùa
Bốn ông cái chủ chốt của đoàn hát sắc bùa xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi biểu diễn hát sắc bùa



Tai không nghe, mắt không thấy, hai “lão làng” đã gần 80 tuổi lướt nhẹ ngón tay gảy cây đàn nhị nỉ non, lại thêm âm thanh phát ra từ tiếng kèn, giọng ca cất lên như được đẩy thêm để phiêu diêu theo điệu hát sắc bùa. Hai “lão làng” là ông Trần Biểu (83 tuổi) và ông Huỳnh Tròn (78 tuổi), cùng xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, dắt nhau đi khắp thôn, làng tham gia các chương trình biểu diễn, không kể ngày đêm, chỉ mong tiếp tục lưu giữ điệu hát sắc bùa.

Đôi bạn già mê hát sắc bùa

Những cơn mưa rả rích, thềm nhà trước căn nhà cấp bốn có hai cụ già, một người gảy đàn nhị nỉ non, một người thổi kèn những âm thanh của điệu hát sắc bùa da diết. Có khách đến, ông lão mắt sáng kéo tay người ngồi gảy đàn dừng lại. Người gảy đàn là ông Trần Biểu bị mù cả hai mắt, người thổi kèn là ông Huỳnh Tròn. Ông Tròn chỉ biết thổi kèn theo “trực giác”, bởi lẽ đôi tai ông bị điếc nặng từ 3 năm nay.

Ông Biểu dò dẫm đi lại trong nhà, pha trà, kể chuyện. Ông mê điệu hát sắc bùa từ khi còn 15, 16 tuổi, khi đó ông hay nghe lỏm các cụ trong làng hát rồi theo chân các cụ “nghệ sĩ” đi khắp thôn xóm mỗi lần hội diễn văn nghệ. Lớn lên, ông Biểu tham gia du kích địa phương, kiêm trưởng đoàn văn nghệ xã từ năm 1962 - 1966. Chiến tranh diễn ra ác liệt, ông Biểu cầm súng ra trận.

Sau 1975, ông Biểu về lại địa phương và bắt đầu khôi phục bộ môn hát sắc bùa. Ông chia sẻ: “Từ xưa, xã Phổ An đã có điệu hát sắc bùa, bắt nguồn từ xóm An Thạnh, Bình An, thường dịp Tết Nguyên đán, ngày lễ, đình làng hội miếu, đều lập đoàn hát sắc bùa. Tuy nhiên, qua thời chiến, người hát sắc bùa đã không còn nhiều và giai điệu dần quên lãng”. Ông Biểu tình cờ gặp ông Huỳnh Tròn, nghe điệu phách ông Tròn gõ phát ra từ miếng tre, rồi tự lúc nào không biết, hai ông kết bạn tri kỷ, cùng nhau lan tỏa điệu hát sắc bùa.

Ông Tròn sống trong một gia đình thuần nông, khi ông bị điếc, các con ông đã mua cho ông cái máy trợ thính, “nhưng tôi không dùng vì nó rất khó chịu, thôi cứ nhìn miệng nói mà đoán rồi nói lại”. Đoán có người nghe chuyện hát sắc bùa, ông Tròn liên miên chuyện xưa cũ, chuyện các con và gia đình. Dù tai không nghe thấy, nhưng ông Tròn vẫn thổi kèn, gõ phách rất giỏi. Ông nhẩm theo điệu hát và nhờ đôi mắt vẫn rất tinh anh nên khi nhìn các ông cái (nhạc công) bắt đầu gõ, khẩu hình miệng hát, ông lập tức gõ theo. Có lẽ, hai “lão làng” Biểu và Tròn là một cặp “bổ khuyết” cho nhau.

Ngày xưa, đội hát sắc bùa có 6 ông cùng làng xóm tham gia, đi khắp nơi biểu diễn. Ngày đó có ông Lê Công Lịch (bí danh Lê Hổ) thôn An Thạnh, xã Phổ An, là cây “đại thụ” hiếm hoi của loại hình nghệ thuật hát sắc bùa, là Nghệ nhân Dân gian hát sắc bùa, Nghệ nhân Ưu tú duy nhất của huyện Đức Phổ được phong tặng danh hiệu; có ông Lịch với hơn 70 năm gắn bó cùng hát sắc bùa, ông Lịch đã qua đời (năm 2015) ở tuổi 88.

Những thế hệ đi trước chính là những người thực hành nghệ thuật hát sắc bùa, họ được coi là “di sản sống” của bộ môn nghệ thuật này. Nay, họ đã lần lượt qua đời vì tuổi tác. Ông Lịch ra đi mà chưa kịp có những ghi chép đầy đủ về di sản sắc bùa ông gìn giữ suốt 70 năm qua. Đến nay, vì sợ mai một văn hóa truyền thống, ông Biểu đang ghi chép lại những bài hát sắc bùa dày hàng trăm trang và truyền tay những người cần mượn để học hát sắc bùa ở các địa phương khác trong huyện. Xã Phổ An cũng cho đánh máy vi tính để lưu giữ lại các bài hát do cụ Biểu ghi chép và sáng tác lưu truyền.

Giữ gìn hát sắc bùa

Khá khen ông lập cái ngõ này/Kim bằng thợ ngọc a rồng xây a tư bề/Hai bên loan phụng giao kề/Nhà lầu ngõ ngói a tư bề xinh tây…, ông Biểu cất lời hát cùng điệu kèn, điệu đàn nhị vang lên, đó là những câu trong lời bài Mở ngõ được diễn trong ngày tết đến, xuân về. Mỗi đoàn hát sắc bùa gồm 10 người, gồm 6 nữ múa hát và 4 nhạc công. Ông cái trưởng đoàn kiêm cả kèn và hát chính, ông vỗ trống, ông gảy đàn nhị và ông vỗ phách. Gia đình rước đoàn về nhà của mình để hát nhân dịp lễ, tết, làm nhà mới…, cầu mong mọi điều tốt đẹp. Điệu hát Mở ngõ được bắt đầu khi đoàn hát sắc bùa vừa đến ngõ nhà gia chủ, hát đến khi gia chủ mở ngõ đón đoàn vào thăm nhà.

Hát sắc bùa là hình thức tổng hợp cả múa, hát và diễn xướng trên sân khấu, mang ý nghĩa chúc tụng với lễ nghi nông nghiệp gắn yếu tố tâm linh, cầu cho mùa màng tươi tốt, gia đạo bình yên. Ông Nguyễn Thanh Sơn - Phó phòng VH-TT huyện Đức Phổ, cho biết: “Hát sắc bùa là nét đẹp trong đời sống tinh thần, hoạt động giải trí giúp vơi đi mệt nhọc trong lao động, sản xuất. Đến nay, loại hình nghệ thuật này chỉ còn lưu giữ khá nguyên vẹn tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ bởi các cụ trong đoàn hát sắc bùa, nhưng rất hiếm hoi. Ngoài ra, ở một số địa phương khác cũng cố gắng truyền lại bộ môn hát sắc bùa nhưng không còn giữ được nguyên bản và đang dần thất truyền”.

Ngay ở xã Phổ An, ông Biểu, ông Tròn mặc dù rất tận tâm với hát sắc bùa nhưng việc giữ gìn nghệ thuật này khiến hai ông trăn trở. Ông Biểu nói: “Những lớp trẻ đều đi làm ăn và không có thời gian để học hát, còn trẻ nhỏ thì bận việc học hành nên chỉ còn mấy lão già ngồi lại đàn hát lối xóm”. Ông Biểu dạy hát sắc bùa cho 2 cháu nội và cháu ngoại ở nhà, thời gian thường là buổi tối, chỉ khoảng một tiếng, sau đó các cháu đi học bài. Ông Tròn dạy lại cho 2 con trai là Huỳnh Lập và Huỳnh Tiến tiếp nối nghề cha. Đoàn xã và Phòng Văn hóa xã Phổ An cũng tham gia lớp học ban đêm cùng hai “lão làng”.

Em Phạm Trần Phương Nghi, lớp 5B, Trường Tiểu học Phổ An, học hát sắc bùa từ năm lớp 1, đến nay em đã hát được nhiều bài hát do chính ông nội Biểu dạy. Nhiều em học sinh vì học được nghệ thuật độc đáo của thế hệ trước đã trở thành những “mầm xanh” thực thụ, tiếp nối truyền thống cha ông. Em Nghi cho biết: “Trước giờ học buổi tối, ông lại dạy nhóm bạn nhỏ trong xóm hát sắc bùa và dành hơn một giờ để truyền đạt. Em đã học hát được câu xướng trong bài Mừng Đảng mừng Xuân…

Ông Nguyễn Tấn Mỹ - Chủ tịch UBND xã Phổ An, cho biết: “Từ năm 2013, nghệ thuật hát sắc bùa được chú trọng và quan tâm hơn, đến nay đã thành lập được đội hát sắc bùa. Hàng năm, các dịp lễ, đại đoàn kết…, đều là đội hát sắc bùa tham gia biểu diễn. Tuy nhiên, trong giải pháp lâu dài cần có các hoạt động tuyên truyên vận động người dân tham gia, truyền đạt bằng hình thức mở lớp học, huy động xã hội hóa”. Ông Sơn cho biết: “Sắp tới, phòng VH-TT sẽ làm hồ sơ để trình các cấp đề nghị công nhận Nghệ nhân Dân gian hát sắc bùa cho ông Biểu, giữ gìn điệu hát sắc bùa”.

Nguyễn Trang (sggp)

Có thể bạn quan tâm

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Tìm các anh giữa cỏ non Thành cổ

Tìm các anh giữa cỏ non Thành cổ

Sáng 2.4 vừa qua, tại di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị (tỉnh Quảng Trị), Ban Chỉ đạo quốc gia tổ chức lễ phát động "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

(GLO)- Có một thời, ở những ngôi làng Bahnar như Kret Krot (xã Hra), Kuk Kôn, Kuk Đak (xã Đak Pơ), nhịp sống bình yên bỗng chùng xuống. Tà đạo Hà Mòn như một “cơn gió độc” quét qua, để lại phía sau sự im ắng nặng nề, len lỏi vào từng mái nhà, khiến buôn làng trở nên khép kín, u ám.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

null