Theo số liệu hiện trạng năm 2025, trong phạm vi quản lý của Vườn quốc gia Kon Ka Kinh có trên 341 ha đất sản xuất nông nghiệp xen kẽ. Trong đó, những diện tích canh tác dưới chân núi từ lâu đã gắn với sinh kế của cộng đồng người Bahnar sống quanh vùng đệm. Cùng với chăn nuôi gia súc, lúa và mì là hai loại cây trồng chủ yếu.
Từ trên cao nhìn xuống, những ruộng lúa nối tiếp nhau nằm lọt giữa rừng già và dãy Kon Ka Kinh hùng vĩ. Màu xanh của lúa như hòa trong sắc xanh của rừng.
Chấm phá trên nền xanh mênh mông ấy là những con đường đất ngoằn ngoèo dẫn đến các chòi rẫy nép dưới tán cây. Thảng hoặc, trên những thửa ruộng vẫn còn sót lại một vài gốc cây cổ thụ làm bóng mát.
Là một trong những chủ hộ gắn bó với những thửa ruộng dưới chân dãy Kon Ka Kinh đã nhiều năm, ông A Mưi (người Bahnar, làng Đê Kjiêng, xã Ayun) kể: “Từ đời ông nội rồi đến đời cha, gia đình mình đã làm ruộng, làm rẫy ở khu vực này.
Từ nhỏ, mình đã được cha cõng lên rẫy. Lớn lên mình được cho ruộng rẫy và tiếp tục trồng lúa 2 vụ, trồng cây mì, nuôi con bò. Hiện các con cũng được mình chia cho một phần ruộng đất trong này để làm sinh kế”.
Bốn thế hệ trong gia đình ông A Mưi nối tiếp nhau canh tác trên những thửa ruộng dưới chân núi Kon Ka Kinh. Với họ, rẫy không chỉ là nơi sản xuất mà còn là một phần của đời sống gia đình.
Cách nhà khoảng 5 km, đến mùa thu hoạch, gia đình ông thường ở lại chòi rẫy. Căn chòi nhỏ tựa lưng vào rừng, nhìn ra đồng lúa, có bếp lửa, thức ăn và những vật dụng thiết yếu. “Mùa thu hoạch, gia đình mình ở chòi rẫy nhiều hơn ở nhà”, ông nói.
Không chỉ có lúa, những rẫy mì cũng hiện diện giữa các mảng xanh của rừng. Hiện đang vào mùa thu hoạch, cộng đồng Bahnar vẫn giữ truyền thống làm đổi công cho nhau. Họ tập trung trên một đám mì, vừa làm việc, vừa trò chuyện rôm rả.
Những hình ảnh, thanh âm ấy làm cho không gian trong Vườn quốc gia không chỉ có màu xanh nguyên bản của rừng mà còn in đậm sắc màu cuộc sống con người.
Bà H’yưp (làng Đê Kjiêng) chia sẻ: Thời ông bà trước đây chỉ trồng lúa rẫy sát chân núi, mỗi năm một vụ nên thường xuyên không đủ ăn, nhất là thời điểm giáp hạt. Sau này, bà con chuyển sang làm lúa nước 2 vụ, nguồn lương thực cũng ổn định hơn.
Theo bà H’yưp, việc canh tác lúa nước vẫn phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên, nhưng dù chuyển từ lúa rẫy sang lúa nước, bà con vẫn giữ những nghi lễ gắn với cây lúa như một phần nếp sống truyền thống.
“Một năm có 2 vụ lúa, thu hoạch vào khoảng tháng 4 và tháng 11. Theo truyền thống của người Bahnar, sau vụ lúa cuối năm, cả làng sẽ tổ chức mừng lúa mới.
Không chỉ mỗi gia đình làm lễ, cả làng còn có ngày mừng lúa mới chung, đánh dấu một mùa sản xuất kết thúc. Đây cũng là ngày hội lớn của cộng đồng Bahnar” - bà cho biết.
Giữa màu xanh bất tận của rừng già Kon Ka Kinh vẫn có những mảng màu của mùa lúa, của những rẫy mì và nhịp sống bình dị của nhiều thế hệ người Bahnar. Đại ngàn vì thế không chỉ được nhìn từ những cánh rừng, mà còn từ cuộc sống của những con người nhiều thế hệ gắn bó với đất và rừng.