“Ngựa” trên sân khấu vì thế không chỉ là đạo cụ, mà là kết tinh của sáng tạo nghệ thuật, làm hiện hữu một hình ảnh quen thuộc nhưng giàu sức gợi.
Đạo cụ sống động trên sân khấu hát bội
Trên sân khấu, “ngựa” không hiện hữu bằng hình hài cụ thể mà được gợi qua một cây roi mảnh, có sợi dây nhỏ móc vào ngón tay út của người diễn.
Thân roi quấn chùm nilon hoặc sợi len nhiều màu, xé tua nhỏ; chỉ cần một cái rung tay, những sợi tua đã rập rờn như bờm ngựa, tạo cảm giác sinh động. Chính từ sự giản dị ấy, cây roi trở thành đạo cụ “biết nói”, đồng hành cùng nhân vật trên từng bước diễn.
Theo chân NSND Đặng Minh Ngọc (Nhà hát Nghệ thuật truyền thống tỉnh) vào phòng hóa trang, những chiếc rương đựng đạo cụ được mở ra.
Vừa tìm roi ngựa, ông vừa chia sẻ: “Cây roi nhìn thì bình thường, nhưng vào tay diễn viên lại rất đa dụng”.
NSND Minh Ngọc cho biết, trước khi lên sân khấu, diễn viên phải thuần thục các kỹ thuật cơ bản: Dàn, ký, dậm, trả, nhảy ngựa (chân); xoan, xỏ, cuộn, khán, vuốt (tay). Tuy nhiên, roi ngựa chỉ thực sự “sống” khi được đặt trong tư duy sáng tạo và tuyến tính cách của từng nhân vật.
Cũng một cây roi, khi dựng trước người diễn là đầu ngựa, đặt sau là đuôi ngựa; giơ thẳng là roi điều khiển, quật xuống chân lại hóa thành vó ngựa. Roi quất liên hồi (phi nước đại) trong tình huống gấp gáp; nhịp chậm, thong thả ngắm cảnh (phi nước kiệu). Qua trải nghiệm và cảm xúc của người nghệ sĩ, cây roi nhỏ bé đã vượt khỏi vai trò đạo cụ, trở thành linh hồn trên sân khấu.
Từ sự am tường đạo cụ đến khả năng hóa thân linh hoạt, NSND Minh Ngọc đã tạo dựng những lớp diễn giàu chiều sâu cảm xúc. Hành trình nghệ thuật của ông trải dài qua nhiều dạng vai, từ kép chính oai phong, chính trực đến phản diện mưu mô, xảo quyệt, rồi cả những vai hề duyên dáng, linh hoạt. Vai Chu Du trong trích đoạn Nhị khí Chu Du là một minh chứng tiêu biểu.
Theo NSND Minh Ngọc, khi hay tin Lưu Bị tẩu thoát vượt sông, Chu Du thúc ngựa truy đuổi trong trạng thái nóng nảy, quyết liệt.
Gần 4 phút diễn cảnh cưỡi ngựa, nhịp phi dồn dập, động tác liên hoàn được đẩy nhanh, gấp gáp, qua đó làm nổi bật tâm thế mạnh mẽ, khí phách “chinh Đông phạt Bắc” của vị danh tướng.
Chính vai diễn này đã mang về cho ông huy chương vàng tại Cuộc thi tài năng trẻ năm 1988, trở thành dấu mốc quan trọng định hình tên tuổi NSND Đặng Minh Ngọc trên sân khấu hát bội.
Không dừng lại ở ánh đèn sân khấu, NSND Minh Ngọc còn bền bỉ truyền nghề, đào tạo lớp diễn viên kế cận, góp phần giữ lửa cho nghệ thuật hát bội.
Trong đó, có những gương mặt đã khẳng định dấu ấn qua các vai diễn gắn với “ngựa” đầy sức gợi, như Mai Ngọc Nhân (huy chương vàng vai Chu Du trong trích đoạn Nhị khí Chu Du tại Cuộc thi tài năng sân khấu tuồng, chèo toàn quốc năm 2007); Nguyễn Thái Phiên (huy chương bạc vai Chu Du trong trích đoạn Nhị khí Chu Du tại Cuộc thi tài năng trẻ diễn viên sân khấu tuồng chuyên nghiệp toàn quốc năm 2014)…
Linh vật khí phách và trí tuệ trên sân khấu
Bằng thủ pháp ước lệ, hình tượng “ngựa” trở thành một thước đo nghệ thuật quan trọng, góp phần dẫn dắt mạch cảm xúc và tư tưởng của toàn bộ lớp diễn. Bi kịch của Hồ Nguyệt Cô trong trích đoạn Hồ Nguyệt Cô hóa cáo (vở Cổ miếu vãn ca) là điển hình.
Khi Nguyệt Cô dần đánh mất hình hài con người, móng vuốt, đuôi và lớp lông cáo hiện ra, nàng không còn nói được tiếng người, cũng không thể lên ngựa.
Trong nỗi đau tuyệt vọng, nhân vật cố tìm dây cương, bám víu con chiến mã từng đồng hành cùng mình. Thế nhưng, con chiến mã cũng kinh hãi trước mùi cáo, hình hài cầm thú nên vùng chạy, hất nàng ngã xuống và lao vào rừng sâu.
Ở lớp diễn này, nghệ sĩ tạo nên một cuộc giằng co đầy ám ảnh giữa người và ngựa. Nghệ nhân Nguyễn Thị Kiều My (giải nhất cá nhân tại Liên hoan tuồng không chuyên Bình Định 2024 với vai Hồ Nguyệt Cô) chia sẻ rằng, cảnh diễn với ngựa tuy chỉ kéo dài hơn 3 phút nhưng là phần “nặng ký” nhất của trích đoạn.
Để đạt được độ chín của vai diễn, chị đã tập luyện liên tục hơn một tháng dưới sự hướng dẫn trực tiếp của nghệ sĩ Hoàng Việt, đồng thời chủ động xin ý kiến góp ý của NSND Hòa Bình và NSND Phương Thảo để từng động tác, biểu cảm diễn đạt đến độ tròn vai nhất.
“Đó là 3 phút dồn nén cao độ cả về thể lực lẫn cảm xúc. Người diễn phải xử lý liên hoàn các động tác khó như té xấp, bật người, giữ cương, ngựa hất, ngựa đá, đồng thời giữ cho mạch cảm xúc không bị đứt gãy” - nghệ nhân Kiều My chia sẻ.
Ngoài ra, hình tượng ngựa trong nghệ thuật tuồng xuất hiện gắn liền với nhiều nhân vật và trích đoạn đặc sắc, tiêu biểu như Liễu Nguyệt Tiêm trong trích đoạn Liễu Nguyệt Tiêm thượng thành (vở Đào Phi Phụng), màn phô diễn tài nghệ đua ngựa đầy kịch tính của hai nhân vật trong vở Mạnh Lương bắt ngựa, hay hình ảnh con chiến mã dũng mãnh lao vào trận mạc, chiến đấu đến kiệt sức vì chủ tướng trong vở Lưu Kim Đính giải giá thành Thọ Châu…
Nói về hình tượng “ngựa” trong nghệ thuật hát bội, NSND Hòa Bình - nguyên Giám đốc Nhà hát Tuồng Đào Tấn - cho rằng: “Khi biểu diễn cảnh cưỡi ngựa, người nghệ sĩ không đưa ngựa thật lên sân khấu mà chỉ cầm trong tay chiếc roi ngựa.
Từ hình tượng ước lệ ấy, thông qua tâm trạng nhân vật và tài năng diễn xuất, con ngựa hiện lên sống động trong cảm nhận của khán giả, khi thì phi nước đại đầy khí thế, lúc lại chậm rãi, trầm lắng, hòa nhịp cùng số phận và cảm xúc của nhân vật trên sân khấu”.
* * *
Chính sự kết hợp chặt chẽ giữa tư duy, kỹ thuật hình thể và diễn xuất đã khiến hình tượng “ngựa” trên sân khấu hát bội vượt khỏi giới hạn của một đạo cụ. Rong ruổi cùng người nghệ sĩ, ngựa bền bỉ chuyên chở khí phách, trí tuệ và cảm xúc của sân khấu truyền thống đến với khán giả hôm nay.