Máy tuốt lúa ngày ấy

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Năm 2018, trong chuyến sưu tầm hiện vật ở huyện Kbang (tỉnh Gia Lai), khi bắt gặp hình ảnh chiếc máy tuốt lúa ngày trước, tôi và đồng nghiệp quyết tâm đưa về Bảo tàng tỉnh.

Những ai sinh ra và lớn lên ở vùng nông thôn ngày trước chắc hẳn không còn xa lạ với hình ảnh người nông dân hì hục đạp máy tuốt lúa trong mỗi mùa gặt. Ngày đó, sau khi cắt, lúa được chất từng bó ngoài đồng cho khô, rồi căng manh bồ xung quanh để đập. Nhà nào khá giả hơn thì chở lúa bằng trâu, bò hoặc gánh lúa về nhà bằng đòn xóc 2 đầu rồi đạp máy tuốt lúa.

Nhà ngoại tôi sắm được cái máy tuốt lúa nên đỡ vất vả hơn mỗi mùa thu hoạch đến. Lũ trẻ chúng tôi thường lân la quanh chiếc máy tuốt để xem người lớn đạp lúa. Khi lúa được tuốt xong, chúng tôi xúm lại cùng nhau đạp cho máy quay tít và cười khoái chí.

Những năm gần đây, khi các cánh đồng mẫu lớn hình thành, hệ thống giao thông nội đồng được mở mang thì máy gặt lúa chạy bằng động cơ, rồi đến máy gặt đập liên hợp xuất hiện. Từ đó, việc gặt và vận chuyển lúa về nhà của bà con nông dân rất thuận tiện. Những cái máy tuốt lúa vốn có giá trị bằng cả gia tài của người dân trước kia dần bị lãng quên và cũng không dễ tìm thấy những chiếc máy tuốt lúa đạp bằng sức người ở những vùng nông thôn ngày trước.

Máy tuốt lúa thường cấu tạo thành 3 phần: Phần thân máy được làm bằng kim loại, đứng vững trên một khối tiếp giáp với đất. Ở phần bên trên khung thường có gắn 2 “tai máy”, còn gọi là khoen, là điểm để xỏ gậy cho 2 người khiêng và di chuyển máy. Ngoài ra, 2 tai này còn có tác dụng phụ là giữ cố định phần trống tuốt khi kết thúc mùa thu hoạch, bằng cách dùng dây cột 2 răng sắt vào 2 tai máy, khi đó trống tuốt sẽ cố định phòng trường hợp khi trẻ em đùa nghịch.

Trống tuốt thường làm bằng gỗ, có hình trụ tròn ở tư thế nằm ngang, được cấu tạo bằng nhiều tang trống ghép lại, bên trong rỗng. Trên những mảnh tang trống, người ta lắp những chiếc răng bằng sắt lệch nhau. Trống quay nhờ sức người đạp. Những chiếc răng sắt này là yếu tố chính tác động vào bông lúa làm tách hạt ra khỏi bông. Bàn đạp thường được làm bằng kim loại hoặc gỗ, là nơi trực tiếp dùng lực chân để tác động làm quay ròng rọc, từ đó làm cho phần trống tuốt xoay mạnh tạo lực tuốt lúa. Khi dùng chân đạp vào bàn đạp 2 bánh răng sẽ ăn khớp với nhau tạo lực làm quay trống tuốt.

Máy tuốt lúa đạp bằng chân đang được lưu giữ, bảo quản tại Bảo tàng tỉnh. Ảnh: Huỳnh Bá Tính

Máy tuốt lúa đạp bằng chân đang được lưu giữ, bảo quản tại Bảo tàng tỉnh. Ảnh: Huỳnh Bá Tính

Khi vận hành, người sử dụng phải dùng bạt quây lại phía trước chiếc máy tuốt lúa hoặc những tấm phên với tác dụng giữ cho thóc không bị văng ra ngoài. Tay của người đạp sẽ nắm lấy gốc của những nắm lúa vừa 2 tay cầm, không dày quá để máy không thể tuốt đi phần hạt. Khi ấy, các răng trống tách hạt ra khỏi bông và hất về phía trước. Người điều khiển cầm chắc nắm lúa phần gốc, xoay trở liên tục sao cho toàn bộ bông tiếp xúc với dàn răng cắm đang quay. Trong khi tay thực hiện nhiệm vụ tráo lúa thì bàn chân của người tuốt lúa vẫn phải dùng lực và đạp liên tục mới có thể tạo lực để ổ bi và trống tuốt quay.

Với mỗi giai đoạn phát triển nông nghiệp sẽ có những công cụ lao động tiêu biểu cho giai đoạn ấy. Và máy tuốt lúa cũng vậy, là giai đoạn chuyển tiếp giữa việc đập lúa bằng tay ở giai đoạn trước và những máy tuốt lúa hiện đại chạy bằng động cơ ở giai đoạn hiện nay.

Việc lưu giữ những công cụ truyền thống giúp cho thế hệ sau biết trân quý sự sáng tạo của cha ông ta, thông qua công cụ lao động cho thấy một phần công việc vất vả của cư dân nông nghiệp để cho ta những hạt gạo-hạt ngọc của thiên nhiên.

Có thể bạn quan tâm

Cụm linh vật năm Bính Ngọ 2026 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành trở thành điểm nhấn nghệ thuật thu hút người dân và du khách du xuân. Ảnh: Đoan Ngọc

Năm Ngọ nói về ngựa: Từ tranh Bát tuấn đồ đến Mã đáo thành công

(GLO)- Trong hệ thống can chi Á Đông, Ngọ không chỉ là mốc thời gian mà còn là biểu tượng văn hóa gắn với con ngựa. Từ tranh Bát tuấn đồ đến các thành ngữ Bát tuấn hùng phong, Mã đáo thành công, hình tượng này cho thấy cách người xưa gửi gắm quan niệm về con người, tập thể và thời thế qua vó ngựa.

"Càng địa phương, càng thế giới"

"Càng địa phương, càng thế giới"

(GLO)- Đó là quan điểm được PGS, TS. Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội chia sẻ cách đây ít lâu khi nói về giá trị của bản sắc trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

(GLO)- Với việc hợp chuẩn OCOP, nhiều sản phẩm thổ cẩm Bahnar, Jrai ở Gia Lai bắt đầu định vị được thương hiệu. Quá trình này có công rất lớn của nhiều phụ nữ, nghệ nhân đã dồn tâm huyết từng bước đưa thổ cẩm truyền thống ra thị trường.

Mỗi cây nêu dựng lên không chỉ góp thêm sắc xuân, mà còn mang ý nghĩa bảo tồn nét đẹp văn hóa cổ truyền của dân tộc. Ảnh: Ngọc Nhuận

Dựng nêu đón Tết - gợi sắc xuân từ mỹ tục xưa

(GLO)- Dựng cây nêu đón Tết là một phong tục có từ xa xưa trong đời sống văn hóa của người Việt. Mỹ tục này từng bị mai một, tuy nhiên, những năm gần đây đã được nhiều địa phương ở tỉnh Gia Lai phục dựng như một hoạt động văn hóa cộng đồng, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống.

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

(GLO)- Hiểu về văn hóa Tây Nguyên bắt đầu từ những hiện vật dân tộc học, đó cũng là một trong những cách tiếp cận của TS. Lê Quang Lâm (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) khi nghiên cứu về văn hóa của người Jrai. Trong hàng nghìn hiện vật mà ông dày công sưu tầm, có bộ sưu tập tù và Jrai độc đáo.

Suy nghĩ từ những lò gốm cổ

Suy nghĩ từ những lò gốm cổ dọc sông Côn

(GLO)- Dọc theo dòng sông Côn huyền thoại, tuyến giao thương quan trọng từng nối vùng cao nguyên với cửa biển Thị Nại, nếu không để ý kỹ, người ta rất dễ đi ngang qua những gò đất tưởng như bình thường. Nhưng dưới lớp đất trầm mặc ấy là dấu tích của một thời Champa rực rỡ.

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

(GLO)- Ở Tây Nguyên, những bước chân đầu ngày của người Jrai hướng về giọt nước của làng. Nguồn nước trong lành từ đó đã đi cùng các buôn làng qua bao mùa rẫy, bao thế hệ; đồng thời lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa, tín ngưỡng và nếp sinh hoạt cộng đồng từ ngàn xưa.

Trần Xuân Toàn và hành trình văn chương

Trần Xuân Toàn và hành trình văn chương

(GLO)- Nhà giáo Trần Xuân Toàn lặng lẽ đi cùng văn chương bằng những trang viết chắt chiu từ trải nghiệm sống, ký ức văn hóa và tình yêu bền bỉ với chữ nghĩa. Liên tiếp trong 2 năm qua, ông cho ra mắt 2 tập sách dày dặn là Dạo bước vườn văn xứ nẫu và Góp nhặt đường văn.

null