Mật danh K8: Đường xa vạn dặm

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Ít ai biết trong thời kỳ chiến tranh đánh phá ác liệt nhất ở miền Bắc, Đảng, Nhà nước đã có những kế hoạch với mật danh riêng (K8, K10, K15...) để bảo vệ giống nòi và giữ hạt giống sau này trở về xây dựng quê hương.
Xe đưa các học sinh đi K8. Ảnh: BẢO TÀNG TỔNG HỢP QUẢNG BÌNH
Xe đưa các học sinh đi K8. Ảnh: BẢO TÀNG TỔNG HỢP QUẢNG BÌNH
Đến bây giờ, ngoài thế hệ đó, ít ai biết trong thời kỳ chiến tranh đánh phá ác liệt nhất ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước đã có những kế hoạch với mật danh riêng (K8, K10, K15...) để bảo vệ giống nòi và giữ hạt giống sau này trở về xây dựng quê hương.
Chúng tôi, những đứa trẻ trong chiến dịch mang mật danh K8, sinh ra ở Quảng Bình, chỉ sống và học tập một thời gian ở Thanh Hóa, nhưng đó là quãng thời gian quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách một con người. Nếu nói Thanh Hóa là quê hương thứ hai thì thật khách sáo, thật sự, chúng tôi đã có hai quê hương.
Cuộc trường chinh bi tráng
Lúc đó nhà tôi mới có 5 anh em. Đứa đầu là tôi, 11 tuổi, út Quế mới 2 tuổi. Ba tôi đi xa, chỉ mạ ở nhà. Quảng Bình lúc đó đúng là đất lửa, máy bay dội bom suốt ngày đêm.
Một hôm, mạ tôi nói chuyện rất lâu với chú Hán, cán bộ xã, rồi xuống hầm chữ A ngồi cầm cái quạt mo quạt cho mấy anh em đang nằm như úp thìa. Rất lâu sau, bà dụi mắt, nói: “Phú với Cường hai hôm nữa đi K8”.
Bọn tôi bật cả dậy.
Bấy giờ, tụi nhỏ chỉ biết “đi K8” là ra Thanh Hóa sơ tán mà thôi. Mãi sau này, trên đường đi, mấy o chú dẫn đoàn nói chuyện, mới hiểu ý nghĩa của nó:
Chiến dịch K8 hay “Kế hoạch 8” là một chiến dịch kéo dài từ tháng 8.1966 đến cuối năm 1967. Đây là cuộc trường chinh sơ tán bằng đường bộ hơn 30.000 học sinh từ 5 - 15 tuổi ở Quảng Bình, Quảng Trị ra sinh sống và học tập ở các tỉnh phía bắc (Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Hà, Thái Bình). Chiến dịch này do Đảng và Nhà nước chủ trương nhằm đưa những thiếu niên, nhi đồng ra khỏi vùng hủy diệt của bom đạn, giữ “hạt giống đỏ” để sau chiến tranh trở về xây dựng quê hương. Có 30.000 học sinh, trong đó Lệ Thủy quê tôi có 500 tham gia “chiến dịch” này.
Trong lúc bọn tôi đang ngỡ ngàng thì mạ nói tiếp: “Mạ định cho Thịnh với Cường đi để dọc đường Thịnh còn chăm em, nhưng ở nhà, các em còn nhỏ quá, mạ thì đi làm, Thịnh phải ở nhà dắt em xuống hầm”.
Mãi đến vài chục năm sau, tôi vẫn không thể nào quên được hình ảnh của hai đứa em, đứa 9 tuổi, đứa 7 tuổi vai đeo cái xắc (túi) áo quần, đi liêu xiêu trong tiếng máy bay gầm rú.
Hôm sau, thấy cả hai đứa trở về. Máy bay ném bom dữ quá, không thể đi nổi.
Tuần sau, mạ nói: “Thôi Thịnh, Phú đi, Cường nhỏ quá trên đường bom đạn biết tránh làm sao”. Thế là đi. Đó là năm 1967.

Bia tưởng niệm 39 học sinh Vĩnh Hiền tử nạn trên chuyến xe trong chiến dịch K8. ẢNH: ĐĂNG ĐỨC
Bia tưởng niệm 39 học sinh Vĩnh Hiền tử nạn trên chuyến xe trong chiến dịch K8. ẢNH: ĐĂNG ĐỨC
Bất chấp hiểm nguy
Lần trước đi đường ven biển, máy bay đánh rát, không thể qua nổi đò Bảo Ninh, nơi mẹ Suốt chèo, lần này đi lên núi, qua Hoa Thủy, Thủ Thừ, Kim Nại, vượt bến đò Trung Quán đến Lệ Kỳ…
Một đoàn trẻ con ngày nghỉ, đêm đi, xuyên làng, qua sông, tối trời, đường đầy bùn đất và hố bom. Thỉnh thoảng phải ngồi xuống nấp vào bụi rậm vì pháo sáng trên đầu, nhảy xuống hố bom vì bom nổ xung quanh.
Đêm đến Lệ Kỳ là đêm dữ dội nhất. Chúng tôi được đưa lên xe nhắm hướng đèo Ngang thì máy bay gầm rú, pháo sáng rực trời, bom nổ không dứt. Chúng phát hiện và đánh ngay vào đội hình xe chở bọn trẻ.
Sau này, trong cuộc đời có gặp chuyện gì đi nữa, chúng tôi cũng chẳng thấy khổ, vì đã trải qua những ngày tháng khổ nhất rồi
Một quả bom tạ nổ gần, tôi che cho em mình, đất vùi hai anh em. Đứng được lên, thì hai anh em tôi đỏ từ đầu đến chân. Lệ Kỳ vùng đất đỏ.
Chừng một giờ sau, thấy một chiếc xe bật đèn pha sáng chạy lên đồi, máy bay bám theo, hết bắn rốc-két lại thả bom bi, hết bom bi đến bom tạ... Thừa cơ hội đó, đoàn xe chở chúng tôi lặng lẽ xuất bến, đi mò mẫm trong đêm. Chiếc xe bật đèn pha sáng là chiếc xe đánh lạc hướng máy bay địch.
Đoàn Lệ Thủy chúng tôi không ai việc gì, sau này mới biết, có 40 bạn Quảng Trị đi cùng một chiếc xe, bị bom, chỉ một người còn sống (nay có mộ chung và bia tưởng niệm).
Hôm sau, đoàn vượt đèo Mồng Gà để sang địa bàn Hà Tĩnh. Bụng đói, cổ họng bỏng rát vì thiếu nước. Chú Trính, trưởng đoàn, kêu: “Chú nhớ rồi, trên dốc này có cây khế, trái nhiều nhưng chua lè, chua ua ua ua...”. Lên dốc, chẳng thấy khế đâu, chú cười: “Chú nói dối đó, nhưng nghe chua, nước miếng túa ra cũng đỡ rát họng phải không?”.

Anh Trần Văn Khỏe (đứng), người duy nhất sống sót trên chuyến xe định mệnh đêm 28.7.1967. ẢNH: LÊ VIỆT THƯỜNG
Anh Trần Văn Khỏe (đứng), người duy nhất sống sót trên chuyến xe định mệnh đêm 28.7.1967. ẢNH: LÊ VIỆT THƯỜNG
Ấm áp
Phải mấy tuần sau, đoàn mới đến Thạch Hà (Hà Tĩnh). Anh em tôi được phân vào ở một nhà dân, nhà đó có một cô đang học trung cấp sư phạm, tên Nga (trường cũng sơ tán về đây) ở. Ngày nào cô Nga cũng nấu nước lá xoan tắm cho hai anh em vì ghẻ lở đầy người.
Một tuần sau, tình hình lắng xuống, chúng tôi lại lên đường.
Cô Nga hai tay dắt hai anh em, thỉnh thoảng lại buông ra để chùi ước mắt. Tầm 4 - 5 cây số, mọi người giục, cô mới buông tay, lấy cái nón trên đầu đội cho em Phú. Lấy chiếc khăn mùi soa đưa cho tôi. Trong nón có ghi chữ, trên khăn tay có thêu: “Mãi mãi nhớ hai cháu - Cô Ngụy Thị Vân Nga” (sau này tôi có bút danh Ngụy Thế Bằng Phương là tên do cô Nga đặt. Lúc tôi làm bài thơ chép vào sổ tặng cô, cô nói: “Thịnh à, sau này nhất định cháu sẽ thành nhà văn, nhà thơ, lấy tên cô đặt làm bút danh nhé”. Tôi dạ).
Một đoàn con trẻ, lớn nhất cũng chưa đến mười ba, nhỏ thì chưa đi học, áo quần tơi tả, ghẻ lở đầy người được mấy cô chú dắt díu nhau đi qua những con đường làng, những cánh đồng bị cày nát, những hẻm núi đầy đá tai mèo… Lạ thay, không đứa nào khóc, không đứa nào kêu vì đói, vì khát, cứ thế mà đi.
Sau này, trong cuộc đời có gặp chuyện gì đi nữa, chúng tôi cũng chẳng thấy khổ, vì đã trải qua những ngày tháng khổ nhất rồi.
Đến nhà rồi !
Ba tháng, mất một học kỳ, chúng tôi mới đến Thọ Đồn (xã Vĩnh Yên, H.Vĩnh Lộc, Thanh Hóa).
Cán bộ địa phương đã chuẩn bị trước, đọc đến tên ai thì người đó bước lên và người nhận nuôi đưa về nhà.
Anh em tôi ở chung nhà. Nhà cố Hy “tứ đại đồng đường”. Nhà mái ngói, sân gạch, vườn trồng nhiều mít. Chuồng bò ngay cạnh nhà. Trong nhà có 3 đứa chắt của cố cùng trang lứa với chúng tôi.
Mỗi đứa chúng tôi được cấp mỗi tháng 13,5 kg gạo và 16 đồng, gọi là đủ ăn lúc đó.
Tối đầu tiên ngồi ăn, em tôi im lặng, chỉ tôi nói, nhưng nói gì trong nhà cũng không hiểu vì rặt giọng Quảng Bình. Nhà cố nói chi chúng tôi cũng không hiểu. Chỉ nghe mỗi câu cô Thu (lúc đó học lớp 9 hệ 10) bảo: “Đừng buồn nữa. Các cháu đến nhà rồi!”.
Đêm ấy, sau nhiều tháng, chúng tôi mới có cảm giác an toàn, dù nhớ nhà nhưng mệt nên ngủ thiếp đi. Giấc ngủ rất sâu.
(còn tiếp)
Theo Nguyễn Thế Thịnh (TNO)

Có thể bạn quan tâm

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

(GLO)- Sáng nào cũng vậy, khi mặt trời vừa lên khỏi dãy núi Chư A Thai, ông Nguyễn Kim Tống (thôn Thanh Thượng, xã Chư A Thai) lại tự lái ô tô vượt quãng đường gần 40 km sang xã Pờ Tó để kiểm tra từng khu chuồng trại, từng đàn bò.

Rẫy chung ở Đak Đoa

Rẫy chung ở Đak Đoa

(GLO)- Giữa những đồi cà phê vào độ chín rộ ở xã Đak Đoa, có những khu rẫy không thuộc về riêng một hộ nào. Đó là rẫy chung - mảnh đất “không chia phần” của cộng đồng, nơi bà con cùng góp công vun trồng, chăm sóc qua từng mùa, lặng lẽ tích lũy thành nguồn lực chung để lo việc thôn, việc làng.

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Từng đoàn khách dập dìu men theo con đường nhỏ dẫn vào làng gốm Thanh Hà (phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng). Ngôi làng nhỏ gần 500 năm tuổi bên dòng Thu Bồn, nơi các thế hệ truyền nhau gìn giữ làng nghề nổi danh xứ Quảng.

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

(GLO)- Trên vùng đất cát trắng bạc màu, “khỉ ho cò gáy”, nông dân Nguyễn Xuân Ánh (SN 1972, thôn Thuận Phong, xã Hội Sơn) đã bền bỉ dựng nên một trang trại tổng hợp gần 10 ha, bình quân lợi nhuận 500 - 700 triệu đồng/năm.

Bình yên sau những ngày lạc lối

Trở về con đường sáng sau những ngày lạc lối

(GLO)- Thời gian qua, lực lượng Công an tỉnh Gia Lai đã kiên trì bám cơ sở, cùng cấp ủy, chính quyền địa phương, người có uy tín cảm hóa, thức tỉnh những đối tượng từng nghe theo tổ chức phản động FULRO. Nhờ đó, nhiều người đã từ bỏ những việc làm sai trái, quay về với con đường sáng và vòng tay yêu thương của buôn làng.

Tết này, người dân vùng bão lũ có nhà mới

Tết này, người dân vùng bão lũ có nhà mới

(GLO)- Càng gần đến Tết Nguyên đán, những căn nhà mới của người dân vùng bão lũ càng hiện rõ hình hài. Khi những mái ấm được dựng lên từ mồ hôi, công sức của bộ đội và sự chung tay của cộng đồng, mùa xuân cũng kịp về sớm hơn với những gia đình lam lũ từng chịu nhiều mất mát do thiên tai.

Pơtao Apui: Vua Lửa của người Jrai

Pơtao Apui: Vua Lửa của người Jrai

(GLO)- Ở khu vực phía Tây tỉnh, trên vùng đất Chư A Thai, truyền thuyết về Pơtao Apui - Vua Lửa của người Jrai đến nay vẫn còn vang vọng. Điều này không chỉ lưu giữ một di sản độc đáo của Tây Nguyên, mà đang trở thành không gian văn hóa - du lịch.

Mưu sinh bên miệng 'tử thần'

Mưu sinh bên miệng 'tử thần'

Khi màn đêm còn phủ đặc sương mặn, cũng là lúc những chiếc thuyền thúng nhỏ bé bắt đầu nghiêng mình lao vào biển động. Ở các làng chài bãi ngang Quảng Ngãi, mùa mưa bão không phải thời điểm trú ẩn, mà trái lại là “mùa vàng” hiếm hoi.

Ký ức lúa nương thiêng

Ký ức lúa nương thiêng

(GLO)- Trên những triền núi ở xã Vân Canh (tỉnh Gia Lai), đồng bào người Chăm H’roi và Bahnar vẫn gieo trồng lúa nương. Với họ, đây không chỉ là vụ mùa mà quan trọng hơn là cách gìn giữ ký ức của cha ông, hương vị thiêng quý của núi rừng.

Tìm lại mình từ bóng tối

Tìm lại mình từ bóng tối

Những cơn “phê” chớp nhoáng, những phút ngông cuồng tuổi trẻ, nông nổi đã đẩy nhiều thanh niên ở Quảng Ngãi lao vào vòng xoáy ma túy. Khi tỉnh lại, trước mắt họ chỉ còn là gia đình tan tác, sức khỏe tàn phá và tương lai bị bóng tối nghiện ngập nuốt chửng.

Vào rốn lũ cứu người

Vào rốn lũ cứu người

Giữa lúc thiên nhiên thử thách, họ đã chọn hành động; giữa hiểm nguy, họ chọn dấn thân và giữa bao nỗi lo, họ mang đến hy vọng. Những chàng trai từ Đà Lạt, Phan Thiết đã vượt hàng trăm kilomet giữa mưa lũ, sạt lở để đến với người dân vùng lũ Khánh Hòa, Phú Yên (cũ).

Chuyện cổ tích của buôn làng

Chuyện cổ tích của buôn làng

(GLO)- Ở làng Tươl Ktu (xã Đak Đoa), khi nhắc đến vợ chồng bác sĩ Nay Blum - H’Nơn, người dân nơi đây luôn kể về họ như kể lại những câu chuyện cổ tích. Với họ, đôi vợ chồng bác sĩ ấy là quà của Yang tặng cho làng Tươh Ktu.

Chiêu trò “việc nhẹ, lương cao”: Vỏ bọc tội phạm mua bán người - Kỳ cuối: Cùng ngăn chặn tội ác

Chiêu trò “việc nhẹ, lương cao”: Vỏ bọc tội phạm mua bán người - Kỳ cuối: Cùng ngăn chặn tội ác

(GLO)- Các cơ quan chức năng, nhất là ngành Công an, chính quyền địa phương là lực lượng chủ công trong phòng, chống mua bán người. Tuy nhiên, toàn xã hội cũng phải cùng vào cuộc và quan trọng nhất là mỗi cá nhân phải chủ động bảo vệ mình bằng cách nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật.

Dư vang Plei Me

Dư vang Plei Me

(GLO)- 60 năm đã trôi qua kể từ chiến thắng Plei Me lịch sử (tháng 11-1965), nhưng dư vang của trận đầu thắng Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức của những cựu binh già. 

null