Xã hội

Đời sống

Gặt no ấm trên vùng đất khó

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Đưa dòng nước mát về cánh đồng khô hạn, mở lối cho cây lúa nước bén rễ. Đảm bảo được cái ăn, họ mạnh dạn trồng cà phê, sầu riêng - những loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao - trên những vùng đất vốn chỉ quen lúa rẫy…

Điểm đặc biệt khiến tôi muốn kể ra câu chuyện dưới đây là bởi họ - những người khai đất mở nghiệp - là đồng bào dân tộc thiểu số vốn rất thụ động, ít mạnh dạn trong lĩnh vực này.

Không chỉ làm giàu cho gia đình, 2 người đàn ông trong câu chuyện dưới đây còn rộng lòng chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ cộng đồng cùng thay đổi tư duy sản xuất, từng bước hình thành vùng cây trồng chuyên canh, tạo sinh kế bền vững.

Lúa nước và chuyện đói ăn chỉ còn trong ký ức

Những ngày cuối năm, theo giới thiệu của Phó Chủ tịch UBND xã Phú Thiện Nguyễn Minh Đăng, chúng tôi tìm gặp ông Đinh Nhiêu (làng Kte A Lớn, xã Phú Thiện) - người hơn 30 năm trước đã kiên trì tìm cách đưa dòng nước mát lành từ sông Ayun Hạ về tưới mát những cánh đồng khô khát của xã Ia Piar, xã Ia Yeng (nay sáp nhập vào xã Phú Thiện), mở ra một giai đoạn mới cho sản xuất nông nghiệp tại vùng đất này.

Ông Đinh Nhiêu đã có công đưa lúa nước về với người dân trên địa bàn xã Phú Thiện. Ảnh: H.T

Nhắc lại cơ duyên với cây lúa nước, ông Đinh Nhiêu kể: Năm 1974, khi làm liên lạc cho huyện 7 (trong kháng chiến, gồm các huyện Ia Pa, Phú Thiện và thị xã Ayun Pa cũ), tôi được phân công về huyện Hoài Ân (cũ) thu mua lương thực, thực phẩm phục vụ kháng chiến.

Điều khiến tôi đặc biệt ấn tượng là giữa mùa khô khắc nghiệt, những cánh đồng lúa nơi đây vẫn xanh tốt, đến vụ thu hoạch cho hạt to, tròn, chắc mẩy. Sự khác biệt ấy thôi thúc tôi tìm hiểu, học hỏi kỹ thuật trồng lúa nước.

Năm 1983, ông Đinh Nhiêu về làm xã đội trưởng xã Ia Piar, rồi giữ chức Bí thư Chi bộ xã. Trăn trở trước thực trạng đời sống người dân còn nhiều thiếu thốn, năm 1990, ông quyết định triển khai thí điểm mô hình trồng lúa nước tại cánh đồng Ia Sinh.

Ông vận động một hộ người Kinh là ông Bốn Phước từ huyện Hoài Ân lên đầu tư trạm bơm đưa nước từ sông Ayun Hạ về ruộng; đồng thời, huy động cán bộ, đảng viên và các hộ có đất cùng tham gia sản xuất trên diện tích 1,5 ha. Sau 3 tháng, ruộng lúa cho thu hoạch hơn 10 tấn.

Ông Đinh Nhiêu (ngoài cùng bên phải) cùng người dân thăm cánh đồng Taly Rbai. Ảnh: H.T

Thành công ban đầu vượt ngoài mong đợi tiếp thêm động lực. Năm 1991, khi xã Ia Piar chia tách thành Ia Piar và Ia Yeng, Bí thư Chi bộ xã Ia Yeng Đinh Nhiêu tiếp tục nhân rộng mô hình. Thời điểm ấy, toàn xã có hơn 600 hộ thì 100% là hộ nghèo, chỉ khoảng 30 hộ đủ lúa ăn, còn lại đều thiếu đói mỗi mùa giáp hạt.

“Để người dân tin, tôi phải làm cho họ thấy bằng kết quả cụ thể. Trong một cuộc họp dân, tôi khẳng định nếu trồng lúa nước không đạt năng suất 6 tạ/sào, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước dân làng.

Tháng 6-1991, khi dòng nước từ hồ Ayun Hạ được dẫn về tận chân ruộng, bà con đồng loạt gieo sạ hơn 100 ha lúa nước. Từ nỗi hoài nghi ban đầu, bà con dần chuyển sang tin tưởng khi chứng kiến cây lúa vươn mình trổ bông, hạt chắc, bông dài. Thấy bà con phấn khởi, cảm ơn rối rít, tôi mừng không nói nên lời” - ông Nhiêu bộc bạch.

Có mặt tại cánh đồng năm xưa, ông Gloanh (làng Plei Kual, xã Phú Thiện) xúc động nhớ lại: Những hộ không có đất sản xuất như gia đình tôi đều được chia cho mượn mỗi nhà 1 sào trồng lúa nước. Đến vụ thu hoạch, mỗi hộ thu được từ 13-15 bao lúa. Nhà nào cũng đầy kho, đi đâu cũng nghe mùi cơm mới, cái đói giáp hạt dần lùi xa.

Còn ông Siu Beng (làng Plei Kual), khi đó là Chủ tịch Hội Nông dân xã Ia Yeng, trực tiếp hướng dẫn người dân các khâu làm đất, ủ giống, gieo sạ, chăm sóc, thu hoạch. Vụ mùa đầu tiên cho năng suất gần 7 tạ/sào. 2 năm sau, diện tích lúa nước toàn xã đạt 160 ha.

Đến năm 2002, khi công trình đại thủy nông Ayun Hạ chính thức đi vào hoạt động, sản xuất lúa nước càng thuận lợi, hiệu quả được nâng cao, chuyện đói ăn chỉ còn trong ký ức.

Cây trồng hiệu quả cao và khát vọng làm giàu

Tại xã Glar cũ (nay sáp nhập vào xã Đak Đoa), ông Thập được người dân nhắc đến như người Bahnar đầu tiên mạnh dạn đưa cây cà phê về trồng, từ đó lan tỏa phong trào chuyển đổi cây trồng trên địa bàn.

Ông Thập và người dân xã Glar (cũ) có thu nhập cao từ khi trồng cà phê. Ảnh: NVCC

Nhớ lại hành trình ấy, ông Thập kể: Nhiều năm trước, trong một lần tham quan mô hình kinh tế tại xã Biển Hồ, thấy cây cà phê cho giá trị kinh tế cao, tôi tìm hiểu kỹ thuật rồi xin vài cây cà phê mít về trồng trong vườn.

Khi cà phê cho quả, tôi giữ lại những hạt tốt nhất để làm giống. Túc tắc sau đó tôi trồng được hơn 300 cây, 4 năm sau vườn cà phê của tôi cho thu hoạch.

Vụ thu hoạch chính đầu tiên, mỗi cây cho trên 30 kg quả tươi, giúp gia đình tôi thu về một khoản tiền lớn. Lúc tôi trồng, nhiều người bảo trồng cây không ăn được quả là dở hơi. Nhưng khi thấy thương lái vào tận vườn mua với giá cao, bà con bắt đầu hỏi han, xin học kinh nghiệm…

Già làng Bưn (67 tuổi, làng Groi 1) là một trong những người sớm học theo ông Thập, nhanh chóng phát hiện mối lợi từ cà phê cao hơn rất nhiều so với trồng lúa rẫy. Từ đó, ông chuyển toàn bộ diện tích lúa rẫy sang trồng cà phê.

“Nhờ được địa phương hỗ trợ giống mới TR4 và hướng dẫn kỹ thuật, tôi có 5 ha cà phê. Những năm được giá, gia đình tôi thu về hàng tỷ đồng, xây nhà, nuôi con ăn học cũng từ đây” - già Bưn nhớ lại.

Theo ông Bùi Quang Thoại - Chủ tịch Hội Nông dân xã Đak Đoa, cây cà phê đã trở thành cây trồng chủ lực của xã Glar (cũ). Trước thời điểm sáp nhập, toàn xã có hơn 2.000 ha cà phê, chủ yếu là giống TR4, TRS1, năng suất đạt trên 4 tấn nhân/ha. Từ nguồn thu này, đời sống nhiều hộ ngày càng ổn định và tốt dần lên.

Ông Ayăi là người đầu tiên ở làng Ktu (xã Gon Gang) trồng sầu riêng. Ảnh: Nguyễn Diệp

Câu chuyện tương tự cũng diễn ra ở làng Ktu (xã Kon Gang), nơi ông Ayăi được biết đến là người đầu tiên đưa cây sầu riêng về trồng và kiên trì chia sẻ kinh nghiệm cho bà con.

Đưa chúng tôi đi thăm vườn sầu riêng, ông Ayăi kể: Khi đi làm thuê cho một số nhà vườn người Kinh, mình thấy sầu riêng mang lại giá trị kinh tế quá hấp dẫn. Từ đó mình ấp ủ ý định đưa loại cây này về trồng.

Năm 2007, mình bán 1 ha đất, cộng với số tiền tích cóp đầu tư mua 100 cây sầu riêng giống Monthong về trồng. 6 năm sau, vườn sầu riêng bắt đầu cho thu hoạch.

Thấy sầu riêng được giá, tới giá 19.000-20.000 đồng/kg, mỗi năm tôi trồng một ít vì thật ra vốn liếng cũng không nhiều. Nhưng dù vậy, giờ đây vườn nhà tôi cũng có hơn 300 cây sầu riêng. Vài năm gần đây, lợi nhuận từ sầu riêng lúc ít cũng đạt 300 - 500 triệu đồng/năm, trở thành nguồn thu nhập chính.

Ông Ayăi (bên phải) và Bí thư Chi bộ kiêm trưởng thôn Ktu thăm vườn sầu riêng của gia đình. Ảnh: H.T

Ông Phạm Đình Duy - Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn Ktu - cho biết: Ông Ayăi không chỉ là người trồng sầu riêng đầu tiên mà còn là người tích cực hỗ trợ, hướng dẫn kỹ thuật cho bà con. Nhờ vậy, đến nay, làng Ktu có hơn 50 ha sầu riêng, năng suất bình quân đạt 30 tấn/ha, thu nhập ước từ 500-700 triệu đồng/ha/năm (chưa trừ chi phí). Theo đó, tỷ lệ hộ nghèo của làng giảm mạnh, hiện chỉ còn 26/271 hộ.

Có thể bạn quan tâm