Gặp gỡ sau 33 năm: Nhiệm vụ cảm tử

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Chiều 16.3.1988, máy bay vận tải An-26 của không quân Việt Nam lao qua đội hình tàu chiến đấu Trung Quốc đang vây quanh đảo Sinh Tồn, thả hàng tiếp tế cho bộ đội đảo.
Đại úy - cơ trưởng Nguyễn Anh Sơn trước giờ bay ra Trường Sa làm nhiệm vụ, năm 1988. Ảnh: TƯ LIỆU
Đại úy - cơ trưởng Nguyễn Anh Sơn trước giờ bay ra Trường Sa làm nhiệm vụ, năm 1988. Ảnh: TƯ LIỆU
Những cán bộ, chiến sĩ tham gia trận chiến đấu 14.3.1988 bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên Biển Đông, đến giờ vẫn nhớ: 2 ngày sau đó, chiều 16.3.1988, máy bay vận tải An-26 của không quân Việt Nam lao qua đội hình tàu chiến đấu Trung Quốc đang vây quanh đảo Sinh Tồn, thả hàng tiếp tế cho bộ đội đảo.
Nhờ đó, rất nhiều thương binh đã được cứu sống nhờ những chai huyết thanh, thuốc y tế... thả xuống, và người chỉ huy tổ bay - lái chính chuyến bay hôm ấy là đại úy Nguyễn Anh Sơn, Phó phi đội trưởng chính trị (nay là chính trị viên) Phi đội 2, Trung đoàn Không quân 918 (nay là Lữ đoàn 918), Quân chủng Phòng không - Không quân. Phi công Nguyễn Anh Sơn nghỉ hưu năm 2016 với quân hàm đại tá, và năm nay 64 tuổi, đang sống tại TP.HCM.
Thả thuốc, cứu thương binh
“Trưa 14.3.1988, chúng tôi đã biết ngoài Trường Sa xảy ra chiến sự, bởi tổ bay vận tải trinh sát thường kỳ của cơ trưởng Mai Chí Lưu bay qua vùng biển Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao phát hiện thấy tàu bốc cháy. Chiều hôm ấy, tổ bay do anh Vũ Ngọc Rự làm cơ trưởng đã sẵn sàng chở áo phao, phao cứu sinh ra rải xuống vùng biển khu vực Sinh Tồn, nhưng sau đó bên hải quân nói hủy nhiệm vụ”, đại tá Nguyễn Anh Sơn nhớ lại.
Trưa 16.3.1988, tổ bay An-26 gồm 5 người (lái chính là đại úy Nguyễn Anh Sơn, Phó phi đội trưởng phụ trách chính trị của Phi đội 2; lái phụ Nguyễn Đình Minh; dẫn đường Nguyễn Tri Thiên; thông tin trên không Nghiêm Đình Sỹ; cơ giới trên không Nguyễn Văn Sỹ) bay từ Tân Sơn Nhất ra sân bay Cam Ranh (Khánh Hòa) để nhận 5 kiện gỗ thông (1 m3/kiện), trong có các chai huyết thanh và thuốc men được chèn trong quần áo, thả xuống đảo Sinh Tồn đang tập trung thương binh, bộ đội tham gia trận đánh 14.3.1988.
Nhận nhiệm vụ, anh Sơn đề nghị cho thả hàng ở độ cao dưới 50 m, trên mặt nước giáp bờ đảo để giảm thiểu việc dập vỡ, hư hỏng cho thuốc y tế. Trung tá Nguyễn Chí Cự (khi đó là Phó trung đoàn trưởng 918) gật đầu: “Tùy tình hình mà giảm, đừng thấp quá”. Theo giáo trình huấn luyện chiến đấu của An-26, độ cao thấp nhất để bay thả hàng không dù, chỉ là 50 m.

Chỉ huy Trung đoàn 918 đón tổ bay An-26 hoàn thành nhiệm vụ thả hàng tiếp tế tại Trường Sa năm 1988. ẢNH: TƯ LIỆU
Chỉ huy Trung đoàn 918 đón tổ bay An-26 hoàn thành nhiệm vụ thả hàng tiếp tế tại Trường Sa năm 1988. ẢNH: TƯ LIỆU
Xếp hàng xong, 2 sĩ quan hải quân mở bản đồ tác chiến thông báo tình hình chiến sự, vị trí ta và tàu Trung Quốc. Nếu bay vòng tránh sẽ không đủ nhiên liệu (xếp hàng trên băng tải nên không thể lắp thùng dầu phụ), anh Sơn quyết định bay xuyên qua đội hình địch ở khoảng cách tối đa có thể, cho dù nguy hiểm. “Tôi mời 2 người lên máy bay nhưng họ nói là… hậu cần”, đại tá Sơn cười và lắc đầu: “Về nguyên tắc, tôi có quyền không cất cánh. Trời chiều, chậm vài chục phút sẽ không hoàn thành nhiệm vụ, trong khi đồng đội đang chờ. Tôi hội ý nhanh với tổ bay và quyết định cất cánh, không cần tác chiến đi cùng”.
Xuyên qua đội hình tàu địch
Bay từ Cam Ranh ra đảo Sinh Tồn khoảng 600 km, vật chuẩn duy nhất có thể quan sát bằng radar là đảo Đá Lớn. Ra khỏi bờ 200 km là mất liên lạc, phải dựa vào hướng bay, tốc độ, thời gian. Bay hết thời gian dự kiến không thấy Đá Lớn, đại úy Nguyễn Anh Sơn bay thêm 10 phút (khoảng 70 km nữa). Vẫn không thấy Đá Lớn, trong khi dầu gần cạn. Vừa định vòng phải bay về thì sĩ quan dẫn đường Nguyễn Tri Thiên hét lên: “Đã thấy”. Máy bay giảm độ cao đến 200 m tìm đảo. Vừa thấy Sinh Tồn, cũng là lúc lái phụ Nguyễn Đình Minh hét lên: “Có tàu phía trước”. Trước mắt là chiếc tàu chiến của Trung Quốc dài cả trăm mét, lá cờ 5 sao trên đỉnh như sắp quệt vào máy bay. “Tích tắc tôi nghĩ: Theo lý thuyết xạ kích, ở góc tà lớn khó bị bắn nhất. Tôi điều khiển bay thẳng, đến đâu thì đến, bị bắn cũng phải chịu. Cuối cùng cũng ổn, không có súng nổ. Chẳng biết tại sao”, đại tá Sơn nhớ lại.
Theo hiệp đồng, hàng sẽ được thả dọc bờ nam nhưng không được thả vào đảo (vì trên đảo nhiều người và hàng hóa sẽ bị hư hại) và cũng không quá xa bờ để dễ vớt. Nhưng sau khi bay qua đội hình tàu Trung Quốc, cơ hội thả ở bờ nam đã lỡ, tổ bay quyết định vòng lại bờ bắc và xuống sát mặt nước thả hàng, để không vỡ những chai huyết thanh.

Thương binh Uông Xuân Thọ (trái) cảm ơn phi công Nguyễn Anh Sơn (giữa) và bác sĩ Lại Quang Tiến (phải) đã cứu sống mình, sau trận 14.3.1988. ẢNH: M.T.H
Thương binh Uông Xuân Thọ (trái) cảm ơn phi công Nguyễn Anh Sơn (giữa) và bác sĩ Lại Quang Tiến (phải) đã cứu sống mình, sau trận 14.3.1988. ẢNH: M.T.H
Sau khi đã “đối chuẩn”, máy bay giảm độ cao xuống dưới 50 m và mở cửa. Nghiêm Đình Sỹ xuống buồng hàng hỗ trợ thả bằng tay nếu băng tải trục trặc. Cách mặt biển khoảng 2 m, Nguyễn Đình Minh hét: “Đồng hồ độ cao không mét”. Khi đã thấp hơn ngọn cây trên đảo, đại úy Sơn lệnh thả hàng. Lúc ấy, anh Nghiêm Đình Sỹ đứng ở cửa, rất nguy hiểm nhưng cũng rất cần thiết để thả hàng, hạn chế sự cố hàng hóa.
“Máy bay lấy độ cao, nghiêng cánh vòng về, đúng lúc mặt trời đỏ lựng bắt đầu chìm xuống. Lần đầu tiên tôi được thấy hoàng hôn trên biển, rất đẹp và thơ mộng”, đại tá Nguyễn Anh Sơn cười.
Đừng quên những người anh hùng
Hạ cánh ở Tân Sơn Nhất khi trời đã tối đen. Trung đoàn phó Nguyễn Chí Cự ra đón tổ bay vừa làm nhiệm vụ cảm tử trở về, hỏi: “Có thả nhầm đảo không đấy?”. Đại úy Sơn khi ấy cương quyết: “Không! Tuần trước tôi còn bay ra đấy thả hàng”.
Gần 10 giờ đêm, Trung đoàn phó Cự lại hỏi: “Cậu có nhầm đảo không? Sao chưa thấy hải quân báo lại?”. Sáng hôm sau, anh Cự xuống gặp sớm, cười: “Hải quân nhận được hàng rồi. Thuốc mình thả rất kịp thời, giúp trạm phẫu cứu sống hàng chục thương binh”.
Chiều 29.4.1988, đại úy Nguyễn Anh Sơn được về Hà Nội nghỉ lễ. Hôm đó, Báo Nhân dân có đăng bài “Gặp những phi công bay biển”, về chuyến bay cảm tử ra Trường Sa ngày 16.3.1988. Bác anh Sơn đòi kể lại và anh hồn nhiên kể lại tất cả. Ngồi nghe thấy, mẹ anh Sơn khóc sụt sùi: “Nguy hiểm thế mà chẳng bao giờ nó nói”.
“Mẹ nào cũng thương con. Mẹ tôi thì đã đau đáu suốt những năm dài ba tôi chiến trận, rồi anh tôi cũng chiến trận. Nên tôi không muốn bà biết tôi cũng ra trận ngay khi đất nước đã có vẻ yên bình”, đại tá Sơn nói vậy và lặng người: “Thế mới hiểu được nỗi đau của những người mẹ có con hy sinh trước mũi súng hèn hạ của kẻ thù mấy chục năm trước. Chỉ xin đừng ai quên những người đã hiến dâng đời mình cho Tổ quốc”...
“Có thể hy sinh nhưng tuyệt nhiên không ai thoái thác nhiệm vụ”
Tối 13.3, tại TP.Hải Phòng, Báo Thanh Niên đã tổ chức cuộc gặp mặt giữa một số cán bộ, chiến sĩ tham gia trận 14.3.1988 và đại diện tổ bay An-26 đã thả hàng tiếp tế xuống đảo Sinh Tồn 33 năm trước. Bác sĩ Lại Quang Tiến (nguyên đại úy, bệnh xá trưởng đảo Sinh Tồn) kể: Những chai huyết thanh, thuốc y tế thả xuống đảo Sinh Tồn chiều 16.3.1988 đã ngay lập tức được sử dụng để cứu chữa vài chục thương bệnh binh mới dạt về từ Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao. Những bộ quần áo bọc bảo quản thuốc, được đảo trưởng Thái Văn Khôi chia cho từng chiến sĩ đang run cầm cập sau nhiều giờ trôi dạt trên biển.
Thương binh Uông Xuân Thọ (nguyên thượng úy, máy trưởng tàu HQ-505), sau khi kể lại những giờ phút chiến đấu, cứu nhau và điều trị trên đảo Sinh Tồn 33 năm trước, đã nghẹn ngào: “Anh em phi công biết có thể bị bắn hạ nhưng vẫn cảm tử ra với chúng tôi. Thuốc men, quần áo cứu sống thể xác, nhưng sự dũng cảm của họ cứu sống chúng tôi về tinh thần. Nhìn thấy không quân, nghĩa là đất liền luôn cạnh chúng tôi”.
Đại tá Nguyễn Anh Sơn cho biết thêm: “Trước và sau 14.3.1988, chúng tôi liên tục bay biển. An-26 bay biển phải chế thêm thùng dầu phụ trong khoang để kéo dài thời gian bay. Hồi ấy bay nhiều nhất là chiếc An-26 mang số hiệu 262 và trước khi làm nhiệm vụ, tổ bay được trang bị từ súng K59, AK-47 cho đến dao cắt dây dù cá nhân phòng trường hợp gặp nạn, sẽ chiến đấu đến cùng, không để đối phương bắt làm tù binh. Bay Trường Sa rất căng thẳng, đã không có liên lạc dẫn đường, xác suất bị lạc, hết dầu và bị đối phương bắn hạ rất cao. Mỗi lần bay Trường Sa, anh em đều xác định có thể hy sinh nhưng tuyệt nhiên không ai thoái thác nhiệm vụ”.
Theo Mai Thanh Hải (TNO)

Có thể bạn quan tâm

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Hành trình lạc lối sau giấc mơ đổi đời

Hành trình lạc lối sau giấc mơ đổi đời

(GLO)- Tin vào những lời hứa hẹn về cuộc sống sung túc và cơ hội định cư ở nước thứ ba, nhiều người dân ở Gia Lai đã vượt biên sang Thái Lan. Những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, ly tán là cái giá đắt cho lựa chọn sai lầm, đồng thời là lời cảnh tỉnh về hệ lụy của di cư trái phép.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Khi độc mộc trôi vào ký ức

Khi thuyền độc mộc trôi vào ký ức

(GLO)- Những con thuyền độc mộc thanh mảnh như chiếc lá từng nhẹ lướt trên dòng Pô Cô đã biến mất. Cảm giác tĩnh lặng xuôi dòng bị thay thế bởi tiếng thuyền máy. Bóng người chưa kịp in xuống đáy nước đã nhòa tan theo bọt sóng trắng xóa hai bên mạn thuyền.

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

(GLO)- Giữa những cánh rừng và triền núi của phường Bồng Sơn và xã An Toàn, nơi chiến tranh từng đi qua và để lại vô số vết thương, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 7 (Quân đoàn 34) đang lặng lẽ thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn, trả lại sự an toàn cho đất đai và cuộc sống bình yên cho người dân.

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

(GLO)- Giữa biển trời Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ đảo Tiên Nữ và Núi Le C vẫn kiên cường bám biển, giữ đảo. Vượt qua nắng gió khắc nghiệt và thiếu thốn nơi đầu sóng, những người lính đảo đang lặng thầm vun đắp màu xanh sự sống, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của biển đảo quê hương.

“Đường về” của Siu Un

“Đường về” của Siu Un

(GLO)- Sau những sai lầm trong quá khứ, ông vượt qua mặc cảm, thay đổi nhận thức, trở thành người tích cực tuyên truyền pháp luật, vận động bà con sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, góp phần giữ gìn bình yên buôn làng.

null