Đi tìm dấu tích Hội thề Lũng Nhai

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Có giả thiết nhận định, Hội thề Lũng Nhai diễn ra ở xã Phúc Thịnh, hoặc xã Kiên Thọ của H.Ngọc Lặc (Thanh Hóa). Liệu có phải?
 

Đồi Bái Tranh ở lưng chừng núi Pù Mé - Ảnh: NGỌC MINH
Đồi Bái Tranh ở lưng chừng núi Pù Mé - Ảnh: NGỌC MINH




Mùa xuân năm Bính Thân 1416, người anh hùng Lê Lợi cùng với 18 vị hào kiệt làm lễ tế cáo trời đất, mưu tính việc dựng cờ khởi nghĩa, lật đổ ách thống trị của nhà Minh. Sử chép sự kiện ấy là Hội thề Lũng Nhai, khởi đầu cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vĩ đại...

Năm 1407, cuộc kháng chiến chống giặc Minh của nhà Hồ thất bại, nước ta một lần nữa rơi vào ách thống trị của phương Bắc. Từ đây, đã có một số cuộc khởi nghĩa nổi lên, nhưng tất cả đều không thành công. Mãi đến năm 1416, từ vùng núi Lam Sơn (Thanh Hóa), người anh hùng Lê Lợi đã quy tụ nhân tâm, mưu sự việc phất cờ khởi nghĩa (khởi nghĩa Lam Sơn). Để rồi sau đó, nghĩa quân đã trường kỳ kháng chiến suốt 10 năm mới giành lại được giang sơn bị giặc Minh đô hộ.

Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thì Hội thề Lũng Nhai được đánh giá là sự kiện khởi đầu, nơi bộ chỉ huy kháng chiến tuyên thệ với trời đất, thần linh và người dân đất Việt, quyết tâm giành lại non sông.

Lời thề Lũng Nhai chính là sự đồng lòng của Lê Lợi và các hào kiệt cùng chung ý chí đánh đuổi giặc Minh, giành lại giang sơn. Theo Giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Quang Ngọc (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển), Hội thề Lũng Nhai là thành quả của giai đoạn đầu tiên chuẩn bị, xây dựng lực lượng cho cuộc khởi nghĩa toàn dân. “Hội thề Lũng Nhai chính thức xác lập đường hướng của cuộc khởi nghĩa, hình thành bộ tham mưu đầu tiên, thúc đẩy nhanh hơn công cuộc chuẩn bị lực lượng, xây dựng căn cứ địa và phát động cuộc khởi nghĩa toàn dân tại núi rừng Lam Sơn. Hội thề là nhân tố cơ bản quyết định toàn bộ quá trình phát triển và thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn”, Giáo sư Ngọc nhận định.


 

 Văn bia trong ngôi đền ở làng Phụng Dưỡng
Văn bia trong ngôi đền ở làng Phụng Dưỡng




Lũng Nhai ở đâu ?

Tầm vóc và ý nghĩa của Hội thề Lũng Nhai thì nhiều nhà nghiên cứu đã làm sáng rõ, nhưng vị trí của Lũng Nhai ở đâu vẫn là một câu hỏi khó, khiến nhiều nhà sử học trăn trở. Qua quá trình khảo sát, đánh giá thực địa và dựa trên các thư tịch cổ, các truyền thuyết dân gian, các học giả đã thống nhất khi nhận định nơi diễn ra Hội thề Lũng Nhai phải là nơi bảo đảm các yếu tố bí mật, có khả năng bao quát, dễ dàng rút lui, bảo đảm an toàn và đặc biệt phải không xa vùng Khả Lam (quê hương của Lê Lợi).

Có giả thiết nhận định, Hội thề Lũng Nhai diễn ra ở xã Phúc Thịnh, hoặc xã Kiên Thọ của H.Ngọc Lặc (Thanh Hóa). Nhưng có rất nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằng, Hội thề Lũng Nhai diễn ra ở núi Pù Mé, xã Ngọc Phụng, H.Thường Xuân (Ngọc Phụng trước thuộc H.Ngọc Lặc, năm 1963 được tách ra nhập vào H.Thường Xuân).


 

Ngôi đền nhỏ do người dân làng Phụng Dưỡng (gần làng Mé) lập
Ngôi đền nhỏ do người dân làng Phụng Dưỡng (gần làng Mé) lập




Đứng trên mỏm đồi Bái Tranh ngay lưng chừng núi Pù Mé (còn gọi là Pù Sào), ông Nguyễn Văn Minh, Phó chủ tịch UBND xã Ngọc Phụng, cho biết nhiều nhà khoa học đã về đây để nghiên cứu, tìm hiểu khu vực này và cho rằng, chính ở đỉnh đồi Bái Tranh này, Lê Lợi đã cùng với 18 vị hào kiệt cắt máu ăn thề cùng nhau sinh tử, đánh đuổi giặc Minh, giành lại nền độc lập cho đất nước. Ông Minh khoát tay chỉ dãy núi phía đông và cho biết, từ đây đến vùng Khả Lam chỉ quãng 7 km, không xa lắm với quê hương của người anh hùng Lê Lợi.

Theo nghiên cứu của Phó giáo sư - tiến sĩ Lê Đình Sỹ (nguyên Viện phó Viện Lịch sử quân sự Việt Nam), Pù Mé là nơi có vị trí đắc địa về mặt quân sự. Đây là một vị trí kín đáo, nằm bên hữu ngạn sông Âm và tả ngạn sông Chu. Từ đây có thể quan sát được cả một vùng rộng lớn phía trước, nên đây có thể là một căn cứ địa, vừa để che mắt kẻ thù, vừa có thể tiến thoái một cách dễ dàng. Với ý nghĩa quân sự như vậy, rất có thể nơi đây đã được Lê Lợi chọn làm địa điểm tổ chức Hội thề Lũng Nhai.

Theo ông Cầm Bá Huyến, Trưởng phòng Văn hóa - Thông tin H.Thường Xuân, tại làng Phụng Dưỡng (nay là thôn Xuân Thắng) gần núi Pù Mé có một ngôi đền nhỏ được dựng vào năm 1937, bên trong có văn bia do Lý trưởng Lê Văn Nguyệt soạn năm 1937 dưới triều vua Bảo Đại, ghi lại việc tổ tiên của ông Nguyệt lập lại làng bản sau khi bị nhà Tây Sơn tàn phá. Văn bia ghi: “... Từ triều Lê xưa kia (đây là) chốn đất linh thiêng có một linh từ phụng thờ quốc thần, dưỡng quốc dân. Trải qua thời gian, được vinh dự đội ơn phong tặng, thực là anh linh muôn thuở. Nhưng từ thời Ngụy Tây (Tây Sơn) tàn phá, thần dân tan tác phiêu lạc. May thay, ông tổ đời thứ 5 của tổ tiên ta là Lê quý công tự Phúc Khoan, xét nhìn địa hình, cảnh thắng mà ngầm lập lại bản ấp...”. Còn theo ông Lê Đức Tiến (người trông coi đồi Bái Tranh), thì ngôi làng Mé ngay dưới chân núi Pù Mé trước đây từng gọi là làng Lũng Mi.


Ông Tiến kể, trước kia ở làng Mé cũng có một ngôi miếu cổ, nhưng nay đã bị phá. Nhiều người cao tuổi trong làng kể lại, khi ngôi miếu bị phá, người dân trong vùng đã nhặt được một số cổ vật, trong đó có 1 ly đồng. Họ tin rằng, những cổ vật này gắn với Hội thề Lũng Nhai. Nhưng đáng tiếc những cổ vật ấy hiện đã lưu lạc khỏi địa phương.

 

 Từ mỏm đồi Bái Tranh có thể quan sát được cả một vùng rộng lớn dọc sông Âm và sông Chu, xa xa phía bên kia dãy núi là lộ Khả Lam (quê hương của Lê Lợi)
Từ mỏm đồi Bái Tranh có thể quan sát được cả một vùng rộng lớn dọc sông Âm và sông Chu, xa xa phía bên kia dãy núi là lộ Khả Lam (quê hương của Lê Lợi)




Nhiều học giả khi nghiên cứu về làng Mé, núi Pù Mé, đồi Bái Tranh và ngôi đền ở làng Phụng Dưỡng… đều cho rằng, việc nhà Tây Sơn cất công lên tận vùng rừng núi xa xôi này để tàn phá đền miếu, làng mạc hẳn phải có một lý do đặc biệt nào đó. Phải chăng đây là nơi linh địa của nhà Lê mà nhà Tây Sơn muốn triệt xóa để thực hiện âm mưu chính trị của mình (?). Và vì vậy, cái tên Lũng Nhai phải đổi thành Lũng Mi như là cách mà người xưa đề phòng làng mạc lại tiếp tục bị tàn phá khi đất nước nổi can qua (?).

Ông Huyến cho biết thêm, trên địa bàn xã Ngọc Phụng hiện còn tồn tại một khu mộ cổ, được đánh dấu bằng những phiến đá to nhỏ chẻ dọc và cắm xuống đất. Khu mộ chôn theo phong tục của người Mường rộng tới 11.300 m2, nằm cách chân dãy Pù Mé khoảng 800 m. Truyền thuyết còn truyền lại cho rằng đây là mộ chôn cất những nghĩa quân Lam Sơn hy sinh trong các trận đánh quanh vùng này. Các nhà nghiên cứu cho rằng, sở dĩ ngôi làng kế bên làng Mé mang tên Phụng Dưỡng là bởi rất có thể đấy là nơi cứu chữa, chăm sóc những nghĩa quân Lam Sơn bị thương, và khu mộ cổ chính là nơi chôn cất những nghĩa quân đã chết. “Ngày ấy, chắc chắn vùng này dân cư rất thưa thớt, rừng núi hãy còn quá hoang vu thì việc có một nghĩa địa rộng lớn như thế này hẳn là quá bất thường”, ông Huyến nói.

Sau nhiều lần hội thảo, đặc biệt là cuộc hội thảo do Viện Sử học, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức gần đây đã cơ bản thống nhất, xác định đồi Bái Tranh ở lưng chừng núi Pù Mé là nơi diễn ra Hội thề Lũng Nhai (hiện nơi đây cũng đã được UBND tỉnh Thanh Hóa ra quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh). Tại hội thảo này cũng vẫn còn ý kiến khác chưa đồng thuận, vì vậy công cuộc nghiên cứu vẫn chưa kết thúc.

 

Lời thề Lũng Nhai

Theo các tài liệu lịch sử còn chép lại, vào tháng 2 âm lịch năm Bính Thân (1416), tại Lũng Nhai, Phụ đạo lộ Khả Lam, nước An Nam là Lê Lợi cùng Lê Lai, Lê Thận, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Nanh, Lê Hiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú, Trịnh Vô, Phạm Lôi, Lê Lý, Đinh Lan và Trương Chiến đã cắt máu, tế cáo trời đất lập lời thề sinh tử.

Họ cùng đồng tâm thề rằng: “... Nay ở trong nước, Phụ đạo chính thần là Lê Lợi và bọn Lê Lai đến Trương Chiến 18 người. Tuy họ hàng quê quán có khác nhau, nhưng kết nghĩa, thân nhau như tổ liền cành, phận vinh hiển có nhau, nguyện tình cùng chung một họ không khác. Hoặc có giặc Ngô xâm chiếm, bắt nhà Trần, cướp nhà Hồ, qua cửa ải làm hại. Như vậy, Lê Lợi và bọn Lê Lai đến Trương Chiến đều chung sức đồng lòng, chống giữ địa phương để xóm làng được an cư, sống chết cùng nhau, không quên lời thề son sắt...”.


Theo Ngọc Minh (thanhnien)

Có thể bạn quan tâm

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

null