Chiến đấu với đời thường

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
26 tuổi, trung úy sĩ quan thông tin ở chiến trường K đã là thương binh nặng nhất, 1/4. Tròn 30 tuổi, giấu thân phận thương binh, vào lại Sài Gòn kiếm sống... 
Học viên Phạm Hào Quang (thứ 2 từ phải qua, hàng đầu) chụp hình với một số đồng đội khi học Trường Sĩ quan chỉ huy kỹ thuật thông tin, cuối năm 1975 TƯ LIỆU
Học viên Phạm Hào Quang (thứ 2 từ phải qua, hàng đầu) chụp hình với một số đồng đội khi học Trường Sĩ quan chỉ huy kỹ thuật thông tin, cuối năm 1975. Ảnh:  TƯ LIỆU
Gần 60 tuổi, chống nạng đi học Cao đẳng Xây dựng và Đại học Luật để quản lý công ty vài trăm công nhân. Đó là câu chuyện của cựu chiến binh Phạm Hào Quang (64 tuổi, ở Q.Tân Phú, TP.HCM).
Lăn lộn chiến trường
Sinh năm 1954 ở xã Hưng Lộc, TP.Vinh (Nghệ An), đang học lớp 10 thì ông đi bộ đội, vào chiến trường B3 chiến đấu trong đội hình trung đoàn 66 (binh đoàn Tây nguyên), tiếp quản Sài Gòn ngày 30.4.1975 và làm nhiệm vụ quân quản TP.
Tháng 8.1975, thượng sĩ Phạm Hào Quang khoác ba lô ra Hiệp Hòa, Hà Bắc (nay là Bắc Giang) học khóa V-D28 (1975 - 1979) Trường Sĩ quan chỉ huy kỹ thuật thông tin. “Thật ra lúc ấy chỉ muốn thi Đại học Vinh và làm thầy giáo. Nhà có 8 anh em, trong đó 7 trai, anh cả thương binh Quảng Trị, anh thứ hai hy sinh ở Cần Thơ. Mình mà xin ra quân là mấy đứa em trai lại phải đi bộ đội, vào chiến trường Tây Nam đánh nhau mịt mù, nên cũng gắng theo học để phục vụ lâu dài và các em yên tâm sản xuất ở quê”, ông Quang kể.
Cuối năm 1979, sau khi kết thúc nhiệm vụ tăng cường chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược tại mặt trận Lạng Sơn, Phạm Hào Quang về trường nhận bằng tốt nghiệp và được cử đi học thêm 6 tháng chuyên ngành thông tin không quân, sau mới nhận quyết định công tác tại Ban Thông tin, Phòng Tham mưu Sư đoàn không quân 376 đóng quân tại Tân Sơn Nhất, TP.HCM. Do là sĩ quan trẻ, lại đã trải qua chiến đấu nên trung úy Quang được điều sang làm nhiệm vụ quốc tế tại Trung đoàn căn cứ không quân 901 đóng ở sân bay Pochentong (PhnomPenh, Campuchia).
Đây là đơn vị tiền phương của Quân chủng Không quân (QCKQ) làm nhiệm vụ quốc tế tại chiến trường Campuchia. Cựu chiến binh Phạm Hào Quang kể: “Sang nước bạn làm việc, không khi nào được mặc quân phục. Đêm đến, nhồi gối đắp chăn trên giường giống y như người nằm, còn mình thì bò xuống hầm hào ngủ để không bị lính Polpot mò vào mưu sát” và say sưa kể về những chuyến bay làm nhiệm vụ chuyển tiếp trên không, vận tải giữa Tân Sơn Nhất - PhnomPenh. Đại tá Lê Tiến Phước, nguyên Chỉ huy trưởng Sở Chỉ huy tiền phương của QCKQ phía nam kể: Ngày 27.10.1980, máy bay chở đoàn cán bộ quân đội từ Tân Sơn Nhất sang Siem Reap đang bay trên vùng trời Campuchia, thì bị lính Polpot bắn tấn công, trung úy Phạm Hào Quang bị trọng thương, phải đưa về nước.
Lăn lóc thương binh
Thương binh Phạm Hào Quang điều trị tại Bệnh viện Quân y 175, đầu năm 1983
Thương binh Phạm Hào Quang điều trị tại Bệnh viện Quân y 175, đầu năm 1983
Sau khi bị thương, trung úy Phạm Hào Quang được đưa về điều trị tại Quân y viện 175 TP.HCM trong hơn… 2 năm trời với 4 lần lên bàn mổ và bệnh án của ông ghi chi chít: Vỡ hộp sọ, vỡ gan, gãy xương cổ, gãy xương sườn, liệt tứ chi... Những y bác sĩ của khoa ngoại thần kinh của Bệnh viện 175 những năm 1981 - 1982 vẫn nhớ đến hình hài dúm dó của bệnh nhân Phạm Hào Quang thường được gọi đùa là “Phó chủ tịch hội đồng y khoa B6” do nằm quá lâu trong viện. Thời điểm ấy, thương binh từ chiến trường K về điều trị chật 175. Thi thoảng có người cùng quẫn lên cơn, đòi tự sát, trốn ra cổng quậy phá là “Phó chủ tịch” lại được ngồi xe lăn ra khuyên nhủ. Có lần, một thương binh tay lăm lăm lựu đạn, gào lên giữa đường “Chết mẹ cho rồi”. Ông Quang lăn xe đến cười: “Sống mới khó, chết dễ ợt. Ngon buông tay để cùng chết, rồi mang tiếng nhục là giết anh em đồng chí” khiến người thương binh bừng tỉnh cài chốt lựu đạn, cả bệnh viện đồng loạt thở phào.
“Tuổi tác và thương tật không làm ta chùn bước. Ta đã bỏ một phần máu thịt và tuổi xuân cho những cuộc binh đao dai dẳng. May mắn sống sót sau chiến tranh, ta dẫu "phế" nhưng chưa thật “tàn". Trọn cuộc đời này ta chỉ mong sao được sống bình dị, giản đơn như một công dân tử tế. Mười tám năm nay, công ty ta mang cái tên trìu mến "Hưng Lộc" - tên một xã nghèo ngoại thành Vinh. Ta đã gánh tên làng, tên xã đầy ắp tuổi thơ phiêu bạt vào Sài Gòn để mưu sinh lập nghiệp. Ta đã sống và được sống”...
(Thương binh Phạm Hào Quang)

Đầu năm 1983, ông Quang được xếp hạng thương binh 1/4, nặng nhất với tỷ lệ thương tật 81% và phong quân hàm thượng úy trước khi xuất ngũ, chuyển về nuôi dưỡng tại Trung tâm điều dưỡng thương binh Nghệ An (xã Nghi Phong, Nghi Lộc, TP.Vinh). Thời điểm này, trung tâm đầy ắp thương binh chống Mỹ, Trung Quốc, Polpot nên việc quản lý không xuể, khiến một số anh em bị thần kinh, bất mãn trốn ra ngoài quậy phá tưng bừng. Ông Quang lại được nài nỉ làm nhiệm vụ “bán kiểm soát quân sự” vừa vận động vừa van vỉ vừa cưỡng chế đồng đội về lại trại. Đầu tháng 9.1983 ông làm đơn xin về nhà.
Gần 30 tuổi, ông mang tấm thân tàn phế về quê trong ánh mắt ái ngại của làng xóm và xót thương của bố mẹ già, 5 đứa em còn đang tuổi ăn học. Lãnh đạo xã bố trí cho công việc “trực Đảng ủy” và cho miếng đất ven đường Vinh - Cửa Hội để bán nước chè xanh, kẹo lạc. “Đêm nằm nghe tiếng kẻng chát chúa của ông đội trưởng gọi xã viên ra kho hợp tác chia sắn mua ở miền tây Quảng Bình ra, tôi bỗng trào nước mắt và nghĩ, không thể cam chịu đói khổ thế này được, phải đi”, ông Quang trầm giọng kể tiếp: “Mấy hôm sau, tôi giao hết sổ gạo, chế độ thương binh cho bố mẹ. Đứa em chở xe đạp ra ga Vinh, tôi khoác ba lô chống nạng leo lên đoàn tàu quân sự chở bộ đội vào nam, đưa thẻ thương binh xin đi nhờ”. Đó là ngày đông lạnh cuối 1983. Những người lính trẻ và tổ kiểm soát quân sự lặng lẽ dồn nhau, nhường một băng ghế cho người thương binh và cùng tựa vai nhau, đến tận ga Sóng Thần.
Lăn lê kiếm sống
Hồi còn công tác trong không quân, trung úy Phạm Hào Quang có quen với một nhân viên kỹ thuật của chế độ cũ (QCKQ tạm tuyển làm công tác đảm bảo máy bay chiến lợi phẩm tại Tân Sơn Nhất) tên Ngọc, nên khi về quê, ông Quang viết thư cho ông Ngọc nhờ “giúp em công việc làm”. Thời điểm này, ông Ngọc mở quán phở Anh tại đường Kỳ Đồng nên nhận ông Quang vào làm phụ bếp. Mỗi đêm, ông Quang đạp xe gần chục cây số ra lò mổ chở xương về rửa sạch, bắc bếp ninh đến gần sáng và sau đó nhặt rau thơm, rửa bát... đến khi hết hàng. “Tuyệt đối không đến gần khách”, ông chủ quán lệnh như vậy và giải thích: “Mặt anh bị thương nhiều sẹo đỏ, khách nhìn thấy sợ, không dám ăn”.
Dân miền Nam ăn phở thường gọi “hột gà” (trứng gà) và chỉ ăn lòng đỏ. Phần lòng trắng còn lại, ông Quang xin người chủ cho ăn, để giữ không tiêu đến khoản tiền lương 1.000 đồng/tháng, đều đặn gửi bưu điện về quê cho bố mẹ nuôi em ăn học. “Tôi ăn nhiều lòng trắng trứng quá, sẹo nổi trên trán và giờ vẫn y nguyên”, ông Quang bảo.
Phụ quán phở được gần 1 năm thì ông Quang thất nghiệp vì chủ quán sang nhượng, làm nghề khác. Để kiếm miếng ăn và nhất là khoản tiền hằng tháng gửi về quê, ông làm mọi việc thuê mướn, từ bỏ mối nước đá, bán bóng bay cho đến đẩy xe bán than… “Thời điểm ấy không có chỗ ở nên cứ đêm đêm tôi đi bộ ra ga Hòa Hưng (nay là ga Sài Gòn) kiếm chỗ ngủ, chung với cả người lang thang, bụi đời, nghiện ngập. Ban đầu thấy tôi mặt mũi nhiều sẹo, mấy cô gái điếm cứ tưởng giang hồ thứ dữ nên mua đồ ăn nước uống trái cây, chiều hết mức. Khi tôi nói thật mình là thương binh đang đi làm thuê, các cô ấy tránh xa hết”, ông kể, quầng mắt ầng ậc nước… (còn tiếp)
Mai Thanh Hải (Thanh Niên)

Có thể bạn quan tâm

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

null