Tôi đi… trại!

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Trại sáng tác là một hoạt động cần thiết cho anh chị em sáng tạo văn học nghệ thuật. Thời gian gần đây, trại sáng tác được mở ra rất nhiều. Có đơn vị mở nhiều lượt trại trong năm cho thành viên của mình và cho cộng tác viên.

Tổ chức Trại sáng tác văn học nghệ thuật khu vực Bắc Trung bộ và Tây Nguyên
Tổ chức Trại sáng tác văn học nghệ thuật khu vực Bắc Trung bộ và Tây Nguyên.

Đây là việc làm thiết thực giúp anh chị em có điều kiện để hình thành và hoàn thành tác phẩm, vì trên thực tế, giới sáng tác ở ta hầu như sinh sống bằng những ngành nghề khác để nuôi nghiệp viết! Do vậy mà thời gian, điều kiện để toàn tâm toàn ý hoàn thiện bản thảo là ít ỏi, khó khăn. Các trại viết chính là dịp giúp họ chuyên tâm hơn vào đứa con tinh thần của mình.

Tôi được nhiều lần tham gia trại sáng tác. Đợt ngắn nửa tháng, đợt dài cả tháng. Mỗi đợt trại đều có một ấn tượng riêng, nhưng 2 lần dự trại sáng tác văn học do Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào các năm 2001 và 2002, mỗi đợt 30 ngày, tập hợp 30 cây bút ở 30 tỉnh thành, còn lưu nhiều kỷ niệm.

Tiêu chí đề ra cho trại viên là hoàn thiện bản thảo đã có sẵn và viết tác phẩm mới. Bốn tuần lễ, chúng tôi làm quen, trao đổi, động viên nhau viết lách. Ban tổ chức mời hẳn một số tác giả có uy tín thường xuyên đến phụ đạo các nhóm chuyên ngành. Nhà thơ Vũ Quần Phương phụ trách nhóm thơ, nhà văn Đỗ Chu phụ trách nhóm truyện ngắn, nhà văn Nguyễn Khắc Trường phụ trách nhóm tiểu thuyết, Nghệ sĩ Nhân dân Tất Thắng phụ trách nhóm viết kịch… Ngoài ra còn mời thêm một số tên tuổi đáng kính khác đến nói chuyện, trao đổi, giao lưu, như nhà văn Nguyễn Đình Thi, nhà thơ Hữu Thỉnh, nhạc sĩ Trần Hoàn, họa sĩ Vũ Giáng Hương, nhà thơ Võ Văn Trực… Mỗi thầy một vẻ, họ đã truyền đạt cho chúng tôi nhiều cảm nhận và kinh nghiệm đáng quý.

Có những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ vì quan tâm, cũng tự tìm đến trại thăm chơi, gặp gỡ trại viên. Phóng viên các báo, đài cũng đến đưa tin và lấy bài vở về giới thiệu. Anh chị em học hỏi được nhiều điều về quan niệm và kinh nghiệm, về tính cách và nhân cách… của lớp đàn anh, của những người nổi tiếng, những người đã có thành tựu nhất định.

Trại còn tổ chức tham quan thực tế các nơi nổi tiếng, các di tích văn hóa lịch sử quanh vùng để anh chị em thêm kiến thức và cảm nhận. Từ những thực tiễn đó, tầm cảm, tầm nghĩ mọi người “mở” ra rất nhiều, nhất là đối với những cây bút “tầm tầm” ở tỉnh lẻ, ở “vùng sâu, vùng xa” như chúng tôi thuở ấy! Tôi tự cảm thấy mình trưởng thành rất nhiều nhờ những đợt trại như vậy.

Bốn tuần lễ là thời gian vừa đủ để chúng tôi tìm hiểu và kết thành tình bạn văn chương ấm áp thân tình, đến mãi sau này vẫn quan hệ mật thiết và quý trọng nhau. Bốn tuần, ngoài việc tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm từ thầy từ bạn, mọi người còn đủ thời gian để sửa chữa, hoàn chỉnh tác phẩm đã có, đủ để cảm nhận, ghi chép, hình thành ý tưởng cho những bài viết mới. Đặc biệt là được thâm nhập tìm hiểu về đất Thăng Long-Hà Nội thiêng liêng mà những người tỉnh lẻ xa xôi không dễ gì có dịp. Lại còn được gặp gỡ làm quen, học hỏi với các tác giả lớn mà lâu nay mình chỉ biết qua tác phẩm. Kết quả khá rõ cho cách đi sáng tác ấy là đến nay hai phần ba trại viên đã khẳng định được tay nghề, viết đều, viết tốt, được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Sau này, hầu như các trại chỉ tổ chức trên dưới 15 người trong vòng 15 ngày đổ lại và được tổ chức ở nhiều vùng miền. Cách tổ chức trại rải đều ra các vùng miền cũng tốt, tổ chức ở vùng miền này cho người vùng miền khác tham dự để có dịp khám phá và cảm xúc mới mẻ. Người vùng miền này đến vùng miền khác rất dễ có cảm xúc và ý tưởng mới, lạ hơn.

Tuy nhiên, với thời gian quá ngắn, anh chị em trại viên không kịp làm quen với nhau chứ đừng nói tìm hiểu, giao lưu. Mà giao lưu bè bạn là nhu cầu rất cao, rất cần cho người sáng tác; là nguồn động viên cổ vũ lớn trong quá trình sáng tạo. Với thời gian ngắn ấy cũng khó mà hoàn thành bản thảo (nhất là bản thảo dài hơi) hoặc lập trình viết mới. Ngay cả những trại của các “nhà chuyên nghiệp” cũng không hẳn đến đó với duy nhất mỗi việc “ta đóng cửa phòng văn hì hục viết” (Chế Lan Viên)! Và, như đã nói, đa phần anh chị em đều ít được dịp đi đó đây để mở rộng cảm quan và kiến thức. Như thế sẽ rất tiếc cho một chuyến đi mà với một số người đôi khi là năm thì mười họa mới có được! Trại viên cũng không được dịp trao đổi học hỏi các bậc đàn anh, các cây bút uy tín và cọ xát với bạn bè để tự so sánh đánh giá bút lực của mình, dễ dẫn đến tâm lý “văn mình vợ người”!

Thiết nghĩ các trại sáng tác nên kéo dài thời gian và tăng lượng người tham gia, như mô hình 2 trại đã trình bày trên. Mời người vững tay nghề (ở các thể loại) tham gia kiểu “phụ đạo”, đọc bản thảo, góp ý với từng tác giả, tổ chức thảo luận giữa các trại viên để học hỏi và rút kinh nghiệm, nâng cao chất lượng cho suốt thời gian mở trại (như một khóa học)… Thời gian kéo dài cũng là động lực cho người dự trại phải thu xếp công việc riêng tư để hoàn toàn yên tâm cho một cuộc đi xa lâu ngày mà toàn tâm toàn ý cho sáng tác.

Thật ra mô hình trại sáng tác không phải đến nay mới có. Từ những năm đầu thế kỷ XX đã có “Trại Ánh Sáng” ở Cẩm Giàng-Hải Dương của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Đây là nơi dành cho các “văn hữu” của nhóm họp về nghỉ ngơi và viết văn. Có lẽ đây là kiểu trại sáng tác sớm có mặt ở nước ta. Từ trại này bao nhiêu tác phẩm của nhiều nhà văn đã đĩnh đạc ra đời, góp phần tạo nên một diện mạo mới, mở ra một thời kỳ mới cho văn học nước nhà lúc bấy giờ.

Đành rằng công việc sáng tác văn học nghệ thuật thì lúc nào cũng được, nơi nào chả xong, hà cớ gì phải là ở… trại! Tuy nhiên, trại sáng tác cũng cần cho anh chị em hoạt động văn học nghệ thuật như đã trình bày.

 Tạ Văn Sỹ

Có thể bạn quan tâm

Tiếp sức cho nghệ thuật truyền thống

Tiếp sức cho nghệ thuật truyền thống

(GLO)- Nghị quyết số 19/2026/NQ-HĐND được HĐND tỉnh Gia Lai thông qua ngày 24-4-2026 (có hiệu lực từ ngày 4-5-2026) với nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể cho nghệ thuật truyền thống, được kỳ vọng tạo thêm động lực cho đội ngũ nghệ sĩ, nghệ nhân, các đoàn nghệ thuật hiện có và gầy dựng lực lượng kế cận.

Thơ Phan Trung Lý: Nhớ Quy Nhơn

Thơ Phan Trung Lý: Nhớ Quy Nhơn

(GLO)- “Nhớ Quy Nhơn” của Phan Trung Lý là dòng hoài niệm đầy cảm xúc về miền biển thi vị với sóng biển, Ghềnh Ráng, dốc Mộng Cầm và dấu xưa Hàn Mặc Tử. Bài thơ gợi lên vẻ đẹp dịu dàng, sâu lắng của Quy Nhơn - nơi cảnh sắc và thi ca như hòa vào nhau trong nỗi nhớ khôn nguôi.

Chạm vào bình yên nơi quê Bác

Chạm vào bình yên nơi quê Bác

(GLO)- Mười hai năm làm dâu xứ Nghệ, tôi không nhớ mình đã bao lần đi qua xã Kim Liên để về nhà chồng. Chỉ biết rằng, mỗi lần ngang qua biển chỉ dẫn vào Khu di tích lịch sử Kim Liên, lòng tôi lại khẽ reo lên như thấy một dấu mốc đặc biệt: “Về đến quê Bác rồi…”. 

Thơ Phạm Thanh Dũng: Thăm vườn tượng suối Hội Phú

Thơ Phạm Thanh Dũng: Thăm vườn tượng suối Hội Phú

(GLO)- Giữa không gian xanh mát của suối Hội Phú, những tác phẩm điêu khắc mang đậm hơi thở Tây Nguyên như đang kể câu chuyện về con người, văn hóa và nhịp sống đại ngàn. Bài thơ “Thăm vườn tượng suối Hội Phú” là hành trình cảm xúc đầy chất thơ giữa nghệ thuật và thiên nhiên phố núi.

Những đóa hoa lòng

Những đóa hoa lòng

(GLO)- Khi nghĩ đến những dòng chữ ấy, tôi không có ý định đặt một tựa đề ẩn dụ cho tín niệm nào cả. Chỉ là, những ngày tháng 5 bắt đầu oi ả cứ thôi thúc tôi nhớ về khu vườn nhỏ xanh mát ở quê nhà. Dẫu gần hay xa, hiện hữu trong không gian hay ký ức vẫn thấp thoáng trong tôi những đóa hoa lòng.

Siu Quý - Cánh chim tìm về

Siu Quý - Cánh chim tìm về

(GLO)- Giới mỹ thuật phố núi không còn ngạc nhiên khi thấy họa sĩ Siu Quý đi về liên tục giữa TP Hồ Chí Minh và Pleiku. Một nơi ông lập nghiệp, một nơi là quê hương. Như cánh chim tìm về, ông đang tích cực kết nối để tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa tại vùng đất mình sinh ra, lớn lên.

null